Nghiên cứu giá trị của mũi insulin
bedtime trong điều trị đái tháo đường typ 2 thất bại thứ phát với
sulfonylurea
PGS . TS Đỗ Trung Quân
Thạc sĩ .Nguyễn Thị Liên Phương
Đặt vấn đề
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh rối loạn chuyển hoá glucid mạn
tính, bệnh có xu hướng tăng lên rơ rệt theo thời gian và sự phát
triển kinh tế. Theo ước tính của viện nghiên cứu ĐTĐ quốc tế vào năm
2000 có khoảng 157,3 triệu người ĐTĐ và năm 2010 có 215,6 triệu
người ĐTĐ [ REF _Ref30307768 \r \h 4].
Tỷ lệ bệnh ngày một gia tăng, đặc biệt ở các nước đang phát triển
như khu vực Châu á - Thái B́nh Dương trong đó có Việt nam.
ĐTĐ là một bệnh gây nhiều biến chứng cấp tính và mạn tính, có thể
gây tàn phế làm ảnh hưởng tới đời sống, thậm chí gây tử vong. Năm
1998, sau 20 năm theo dơi UKPDS đă kết luận việc kiểm soát glucose
máu chặt chẽ trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2 bằng nhiều phương pháp điều
trị làm giảm tỷ lệ tử vong và mức độ tàn phế [ REF _Ref30307850 \r
\h 5]. Để đạt được mục tiêu kiểm soát
glucose máu ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có nhiều phương pháp điều trị được
áp dụng như: thực hiện chế độ ăn uống - luyện tập, sử dụng các thuốc
hạ đường huyết đường uống (sulfonylurea, metformin...) và tiêm
insulin.
Các thuốc điều trị ĐTĐ như Sulfonylurea và metformin sử dụng đơn
độc có một tỷ lệ thất bại thứ phát khá cao. Khoảng 25% BN ĐTĐ typ 2
thất bại tiên phát với sulfonylurea, trong số những BN có đáp ứng
tốt với điều trị sulfonylurea hàng năm có khoảng 5 - 10% BN ĐTĐ typ
2 thất bại thứ phát với sulfonylurea [ REF _Ref30357835 \r \h 23,
REF _Ref30316463 \r \h 20]. V́ vậy,
làm thế nào để cân bằng glucose máu tốt cho nhóm BN thất bại thứ
phát với sulfonylurea là vấn đề đă và đang được nhiều tác giả trên
thế giới quan tâm nghiên cứu [ REF _Ref30320461 \r \h 17]
[ REF _Ref30319997 \r \h 52] [ REF
_Ref30369392 \r \h 58]. Có nhiều phác
đồ điều trị được đưa ra như: kết hợp sulfonylurea với insulin BC khi
đi ngủ; kết hợp sulfonylurea với Metformin, kết hợp sulfonylurea với
nhóm ức chế a
- glucosidase...; hoặc điều trị thay thế bằng tiêm insulin. Trong đó
các tác giả thấy rằng: điều trị kết hợp sulfonylurea với một mũi
tiêm insulin bán chậm lúc đi ngủ là một trong các phương pháp điều
trị đạt được hiệu quả kiểm soát glucose máu tốt và an toàn ở bệnh
nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với nhóm Sulfonylurea.
ở Việt nam
chúng tôi chưa thấy một nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này. V́ vậy,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục đích:
1.
Đánh giá hiệu quả kiểm soát glucose máu khi tiêm thêm
một mũi insulin bán chậm buổi tối trước khi đi ngủ ở BN ĐTĐ typ 2
thất bại thứ phát với Sulfonylurea.
2.
T́m liều insulin bán chậm buổi tối trước khi đi ngủ
thích hợp cho những BN ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với điều trị nhóm
Sulfonylurea ở khoa Nội tiết Bệnh viện Bạch mai.
Chương 1
Tổng quan tài liệu
1.1.
t́nh h́nh bệnh ĐTĐ
ĐTĐ là một bệnh có xu hướng ngày càng tăng kéo theo tăng tỷ lệ các
biến chứng của nó. ĐTĐ là một trong ba bệnh phát triển nhanh nhất:
ung thư, tim mạch, và ĐTĐ. Số bệnh nhân ĐTĐ đang gia tăng một cách
mạnh mẽ, đặc biệt là ĐTĐ typ 2.
Theo kết quả của cuộc điều tra cơ bản sức khoẻ quốc gia tại Mỹ, năm
1993 có khoảng 7,8 triệu người được chẩn đoán ĐTĐ ở Mỹ, trong đó có
khoảng 90 - 95% bị ĐTĐ typ 2 [ REF _Ref30307850 \r \h 5].
Theo công bố của tổ chức y tế thế giới, năm 1985 có 30 triệu người
trên thế giới bị ĐTĐ th́ đến năm 1994 là 98,9 triệu người. ở các
nước công nghiệp phát triển, ĐTĐ typ 2 chiếm 70 - 90% tổng số bệnh
nhân bị ĐTĐ [ REF _Ref30307768 \r \h 4].
Theo tài liệu nghiên cứu tính
chất dịch tễ bệnh ĐTĐ, th́ tỷ lệ bệnh tăng lên hàng năm, cứ 15 năm
th́ tỷ lệ bệnh tăng lên 2 lần [2].
Khu vực có tỷ lệ gia tăng mạnh nhất là Châu á và Châu Phi. ở Châu á
năm 1995, có 62,8 triệu bệnh nhân bị ĐTĐ, trong đó ĐTĐ typ 2 là 61,8
triệu người, dự báo đến 2010 sẽ có 132,3 triệu bệnh nhân bị ĐTĐ
trong đó ĐTĐ typ 2 là 130,1 triệu người [61].
Bệnh ĐTĐ có ảnh hưởng rất lớn đến xă hội v́ mức độ phổ biến của bệnh
và khả năng nguy hại đến sức khoẻ - kinh tế.
ở Việt nam, cho đến nay chưa có số liệu thống kê trên toàn quốc
nhưng theo điều tra ở 3 miền cho thấy, tỷ lệ ĐTĐ có khác nhau: Hà
nội 1,1% (1990 - 1991), thành phố Hồ Chí Minh 2,68% (1992 - 1993),
và Huế 0,98% (1993 - 1994) [ REF _Ref30308227 \r \h 3].
Số lượng bệnh nhân ĐTĐ typ 2 ngày một gia tăng và số BN được kiểm
soát GM kém khi điều trị liều tối đa thuốc uống hạ đường huyết
thường gặp trên lâm sàng. V́ vậy vấn đề đặt ra là các giai đoạn
chiến lược điều trị ĐTĐ typ 2 như thế nào cho phù hợp để đạt được
kiểm soát glucose máu tốt.
1.2.
điều trị ĐTĐ typ 2 theo từng giai đoạn
Trong nhiều thập kỷ gần đây mặc dù có nhiều khó khăn nhưng nh́n
chung nền kinh tế thế giới vẫn có sự tăng trưởng tốt. Đời sống người
dân ngày càng được cải thiện bên cạnh đó các bệnh lư chuyển hoá, tim
mạch, ung thư cũng càng được quan tâm nhiều. Đặc biệt là ĐTĐ, bệnh
có tỷ lệ đang tăng trên toàn thế giới trong những năm gần đây v́ vậy
điều trị ĐTĐ trở thành một vấn đề y học xă hội [ REF _Ref30316193 \r
\h 38]. Sự gia tăng tỷ lệ ĐTĐ và ảnh
hưởng của các biến chứng của nó đă trở thành vấn đề quan tâm của
toàn cầu, do đó rất cần thiết một mô h́nh toàn diện trong điều trị
ĐTĐ để đạt được những mục tiêu chủ yếu. Mục tiêu của điều trị ĐTĐ là
quản lư glucose máu, làm giảm các triệu chứng của bệnh, giảm các
biến chứng của bệnh, giảm tỷ lệ HbA1C và cải thiện chất
lượng cuộc sống.
Năm 1988, trung tâm ĐTĐ quốc tế (International Diabetes Center) đă
phát triển một hệ thống chăm sóc ĐTĐ và trung tâm giáo dục địa
phương ở Minneapolis, được gọi là "điều trị ĐTĐ theo giai đoạn"
(Staged Diabetes Management). Chương tŕnh này cung cấp cơ sở rơ
ràng và tiếp cận có hệ thống để điều khiển ĐTĐ đối với thầy thuốc
nội khoa chăm sóc sức khỏe ban đầu cần thiết cho cộng đồng tại địa
phương. Phần quan trọng nhất của chương tŕnh bao gồm những hướng
dẫn thực hành, một loạt những hướng giải quyết trên lâm sàng, và
những vấn đề liên quan [ REF _Ref30316217 \r \h 11].
"Điều trị ĐTĐ theo giai đoạn" đă đem đến sự thay đổi trong thực
hành, cải thiện sàng lọc và phát hiện sớm, kiểm soát glucose máu
chặt chẽ và tăng giám sát các biến chứng. Chương tŕnh đă được sử
dụng nhiều năm trên nhiều địa điểm đă đạt kết quả tốt, làm giảm đáng
kể tỷ lệ các biến chứng như loét chân, và cắt cụt chi [ REF
_Ref30316231 \r \h 36].
1.3.
Mục tiêu điều trị cụ thể:
1.3.1.
Mục tiêu điều trị ĐTĐ
Kiểm soát glucose máu chặt chẽ ở bệnh nhân ĐTĐ làm giảm được glucose
máu lúc đói, giảm tỷ lệ HbA1C và do đó giảm được các biến
chứng có liên quan đến ĐTĐ, giảm tử vong do nguyên nhân ĐTĐ (kết
luận của chương tŕnh UKPDS tháng 9/1998).
Bảng 1.1:
Mục tiêu kiểm soát (theo tcyttg 1985) [ REF _Ref30307850 \r
\h 5]
Chỉ số
|
Đơn vị |
Tốt |
Vừa |
Kém |
|
Đường máu |
- lúc đói |
mg/dL
mmol/L |
80 - 100
4,4 - 6,1 |
£ 140
£ 7,8 |
>140
> 7,8 |
|
- sau ăn |
mg/dL
mmol/L |
80 - 144
4,4 - 8,0 |
£ 180
£ 10,0 |
>180
>10,0 |
|
HbA |
% |
< 8,0 |
£ 9,5 |
> 9,5 |
|
HbA1C |
% |
< 6,5 |
£ 7,5 |
> 7,5 |
|
Đường niệu |
% |
0 |
£ 0,5 |
> 0,5 |
|
Cholesterol TP |
mg/dL
mmol/L |
< 200
< 5,2 |
< 250
< 6,5 |
> 250
> 6,5 |
|
HDL - cholesterol |
mg/dL
mmol/L |
> 40
> 1,1 |
³ 35
³ 0,9 |
< 35
< 0,9 |
|
Triglycerid lúc đói |
mg/dL
mmol/L |
< 150
< 1,7 |
< 200
< 2,2 |
> 200
> 2,2 |
|
BMI |
Nam |
kg/m2 |
20 - 25
19 - 24 |
£ 27
£ 26 |
> 27
> 26 |
|
Nữ |
|
Huyết áp |
mmHg |
£ 140/90 |
£ 160/95 |
> 160/95 |
| |
|
|
|
|
|
|
Nếu trước đây người ta coi biến chứng mạn tính của ĐTĐ là một điều
đương nhiên th́ qua hai nghiên cứu DCCT và UKPDS cho thấy, kiểm soát
glucose máu chặt chẽ có thể làm biến chứng ít xảy ra hơn đối với cả
hai thể ĐTĐ typ 1 và typ 2.
1.3.2.
Tỷ lệ HbA1C
ở
người lớn, HbA chiếm khoảng 97 - 98%, HbA2 chiếm khoảng
2,5% và HbF khoảng 0,5%. HbA gắn với glucose tại đoạn cuối với amino
acid valin của chuỗi
b. Quá
tŕnh gắn này gọi là "glycosylation" và hemoglobin bị glycosylate
gọi là HbA1. Mặc dù HbA1 chiếm chủ yếu trong
số hemoglobin gắn với glucose, quá tŕnh "glycosylation" có thể xảy
ra tại các vị trí khác trong chuỗi globin và ở các hemoglobin khác
nữa ngoài HbA. Quá tŕnh "glycosylation"hemoglobin xảy ra khi hồng
cầu tiếp xúc với glucose huyết tương. Hemoglobin và glucose có thể
tạo cầu nối ban đầu lỏng lẻo nhưng sau đó bền vững, rất khó tách
được hemoglobin và glucose. Đối với HbA1, phần cầu nối
lỏng lẻo thường chiếm 10% tổng số cầu nối HbA1 -
glucose. Sự h́nh thành HbA1 xảy ra rất chậm trong suốt
đời sống hồng cầu (120 ngày), số lượng HbA bị "glycosylation" phụ
thuộc vào nồng độ glucose và thời gian tiếp xúc với glucose. HbA1
gồm 3 loại: A1a, A1b, và A1C, trong
đó HbA1C chiếm 60 - 70% lượng HbA1. V́ HbA1
chiếm đa số hemoglobin bị glycosylate hoá ở điều kiện b́nh thường,
HbA1C do đó đại diện cho hemoglobin bị glycosylate. Loại
huyết sắc tố glycosylat A1C (HbA1C) thường
chiếm 4 - 6% tổng số huyết sắc tố [ REF _Ref30316379 \r \h 43].
Tăng nồng độ hemoglobin gắn glucose có thể gây nên bởi sự mới tăng
nồng độ glucose máu trong một thời gian ngắn (trong đó cầu nối lỏng
lẻo bị ảnh hưởng đầu tiên), nhưng thường là do tăng nồng độ glucose
máu tương đối thường xuyên hay do tăng nồng độ glucose máu ngắt
quảng đủ gây nên tăng nồng độ glucose máu trung b́nh ở mức cao bất
thường (ở hai trường hợp này cầu nối bền vững bị ảnh hưởng đầu
tiên). Tăng hemoglobin bị glycosylate có cầu nối bền vững bắt đầu
khoảng 2 - 3 tuần (thay đổi trong 1 - 4 tuần) sau khi nồng độ
glucose máu trung b́nh tăng ổn định. Đo hemoglobin bị glycosylate
phản ánh nồng độ glucose máu trung b́nh trong 2 - 3 tháng trước đó
(thay đổi 1 - 4 tháng). Ngược lại, tăng hay giảm glucose ở mức tương
đối (100mg/100ml hay 5,55mmol/l) xảy ra trong ṿng 3 ngày trước khi
đo HbA1 sẽ làm tăng thêm hemoglobin bị glycosylate có cầu
nối lỏng lẻo 15% (thay đổi 12 - 19%) so với hemoglobin bị
glycosylate. Sự giảm đột ngột tự phát glucose máu thường ít gặp, v́
vậy trong hầu hết các trường hợp, nồng độ hemoglobin bị glycosylate
b́nh thường là bằng chứng rất tốt của glucose máu trung b́nh tương
đối b́nh thường trong ít nhất 4 tuần.
Như vậy, huyết sắc tố glycosylat phản ánh mức glucose máu trong ṿng
trên dưới 8 tuần lễ trước khi đo và sẽ cho biết sự kiểm soát glucose
máu trong thời gian dài. ở bệnh nhân ĐTĐ nồng độ HbA1C
khoảng 5 - 7% cho biết bệnh nhân đă được ổn định glucose máu tốt
trong 2 - 3 tháng trước. Nếu HbA1C> 10% chứng tỏ glucose
máu bệnh nhân không được kiểm soát tốt. Ngược lại, trên bệnh nhân
glucose máu cao, nếu điều trị tích cực giảm được glucose máu th́
huyết sắc tố kết hợp với glucose sẽ chỉ thay đổi sớm nhất sau 4
tuần.
Trong việc kiểm soát lâu dài bệnh ĐTĐ, theo dơi chỉ tiêu tỷ lệ HbA1C
có ưu thế hơn glucose máu. Người có tỷ lệ HbA1C 7% có ít
tổn thương hơn so với người có tỷ lệ HbA1C 7,9% và chỉ
cần làm giảm tỷ lệ HbA1C xuống 0,9% đă giảm được hầu hết
các biến chứng liên quan đến ĐTĐ [ REF _Ref30307850 \r \h 5].
Tóm lại, tăng nồng độ hemoglobin glycosylate hầu hết là do tăng
glucose máu trung b́nh trong một thời gian dài từ 2 - 3 tháng trước.
Đo hemoglobin glycosylate đă được áp dụng để giám sát hiệu quả điều
trị ĐTĐ lâu dài, giám sát mức độ nhạy cảm của bệnh nhân với điều trị
cũng như giúp phân biệt rối loạn dung nạp glucose trong một thời
gian ngắn có liên quan đến stress (nhồi máu cơ tim cấp) và ĐTĐ.
Tỷ
lệ HbA1C là một thông số tốt để giúp kiểm soát đường
huyết nhưng không thể dùng để chẩn đoán bệnh. Ngày nay, HbA1C
được coi như một tiêu chí để đánh giá kết quả của sự ổn định về
chuyển hoá trên bệnh nhân ĐTĐ. Định lượng HbA1 hoặc HbA1C
là thông số quan trọng trong đánh giá kiểm soát glucose máu lâu dài
trên lâm sàng và nó đă trở thành "tiêu chuẩn vàng" trong đánh giá
hiệu quả điều trị. Bệnh nhân ĐTĐ nên được đo HbA1C mỗi 3
- 6 tháng một lần [ REF _Ref30316447 \r \h 6][
REF _Ref30316463 \r \h 20].
Các yếu tố sau đây
có thể ảnh hưởng đến kết quả đo HbA1C:
-
Mất máu cấp hoặc mạn làm giảm đời sống hồng cầu và do
đó sẽ làm giảm nồng độ huyết sắc tố glycosylat. Nên cẩn thận biện
luận kết quả khi có thiếu sắt, xuất huyết tiêu hoá, nhiễm sắc tố
sắt, tán huyết...
-
Trên bệnh nhân suy thận mạn, huyết sắc tố glycosylat
có thể bị carbonyl hóa (sẽ làm tăng kết quả HbA1), mặt
khác cũng có thể giảm do tán huyết, xuất huyết tiêu hoá.
-
Một số bệnh huyết sắc tố cũng có thể ảnh hưởng đến kết
quả đo HbA1: huyết sắc tố F, bệnh huyết sắc tố C, D, S.
1.4.
Các thuốc điều trị ĐTĐ typ 2
1.4.1.
Nhóm sulfonylurea
1.4.1.1.
Các loại sulfonylurea
Trong công
thức chung của sulfamid hạ đường huyết (tức là sulfonylurea) có 2
gốc R1 và R2 tự do, nên khi thay thế các gốc này sẽ được một hợp
chất mới. V́ vậy, khả năng tạo ra các chất mới sẽ không hạn chế:
R1 - sulfonylure - R2
Năm 1942, Janbon và cộng sự thấy khi sử dụng sulfamid để điều trị
bệnh thương hàn đă phát hiện ra tác dụng gây hạ đường huyết của
chúng. Năm 1954 Franke và Fuch lần đầu tiên áp dụng sulfamid điều
trị ĐTĐ.
Sulfonylurea được chia làm 2 nhóm tuỳ theo thời gian xuất hiện của
nó trong danh mục thuốc [ REF _Ref30317093 \r \h 7]
[ REF _Ref30316890 \r \h 29]:
Thế hệ I: Tolbutamid, Acetohexamid, Clopropamid....
Thế hệ II: tác dụng nhanh hơn thế hệ I, gồm: Glibenclamid,
Glipizide, Gliclazide...
Bảng 1.2:
Các loại sulfonylurea [ REF _Ref30316558 \r \h 42]
|
Tên quốc tế |
Liều lượng
hàng ngày (mg) |
Thời gian
bán huỷ |
Thời gian tác dụng |
Thải trừ |
Sulfonylurea thế hệ I
|
|
Chlopropamide |
100 - 500 |
36 giờ |
> 48 giờ |
Thận |
|
Tolazamide |
100 - 1000 |
4 - 6 giờ |
12 - 24 giờ |
Gan, thận |
|
Tolbutamide |
500 - 3000 |
4 - 6 giờ |
6 - 12 giờ |
Gan |
Sulfonylurea thế hệ II
|
|
Glimepiride |
1 - 8 |
5 - 8 giờ |
24 giờ |
Gan, thận |
|
Glipizide |
2,5 - 40 |
3 - 4 giờ |
12 - 18 giờ |
Gan |
|
Glipizide
(phóng
thích kéo dài) |
5 - 10 |
|
24 giờ |
Gan |
|
Gliburide |
1,25 - 20 |
5 giờ |
12 - 24 giờ |
Gan, thận |
|
Gliburide
(micron
hoá) |
0,75 - 12 |
|
12 - 24 giờ |
Gan, thận |
1.4.1.2.
Cơ chế tác dụng
Dựa vào những nghiên cứu thực nghiệm trên tuyến tụy cô lập, đảo tụy
cô lập và nuôi cấy tế bào
b,
Pfeifer và cộng sự (1981) đă chứng minh rằng, tác dụng hạ glucose
máu của các nhóm thuốc thuộc dẫn xuất sulfonylurea là do tác dụng
trên receptor bề mặt K+ATPase của tế bào
b ở đảo
Langerhans. Sulfonylurea gắn vào thụ thể bề mặt của màng tế bào
b (ở
tụy) và ức chế kênh K+ nhạy cảm với ATP ngăn không cho K+
thoát ra, làm màng tế bào
b bị khử
cực. Sự khử cực màng tế bào lại gây mở kênh calci phụ thuộc điện
thế, cho phép calci ngoài tế bào chảy vào trong tế bào, lượng calci
được tăng lên trong bào tương sẽ kích thích giải phóng insulin [ REF
_Ref30316966 \r \h 9] [ REF
_Ref30316033 \r \h 40].
Cơ chế tác dụng hạ đường huyết của các thuốc sulfonylurea dựa trên
hai tác dụng cơ bản: kích thích tế bào
b, và
tăng hiệu lực tác dụng của insulin nội sinh và ngoại sinh.
Tác dụng chính của sulfonylurea là kích thích bài tiết insulin,
không có tác dụng trên tổng hợp insulin. Khả năng kích thích giải
phóng insulin của tế bào
b của
sulfonylurea phụ thuộc vào khả năng gắn với các thụ thể đặc hiệu.
Như vậy sulfonylurea chỉ có tác dụng khi tế bào
b không
bị tổn thương [ REF _Ref30358342 \r \h 35].
Tác dụng làm tăng hiệu lực của insulin nội sinh và ngoại sinh thực
hiện bằng ức chế enzym insulinase của gan, ức chế kết hợp insulin
với kháng thể và với protein huyết tương [ REF _Ref30316150 \r \h 2].
Ngoài tác dụng kích thích trực tiếp, sulfonylurea c̣n làm tế bào
b nhạy
cảm với các chất kích thích tiết insulin khác, và đặc biệt là làm
tăng giải phóng insulin để đáp ứng với nồng độ cao của đường trong
máu.
Một số nghiên cứu gần đây chứng
minh là các thuốc này c̣n làm tăng số lượng receptor của insulin ở
bạch cầu đơn nhân to, tế bào mỡ, hồng cầu, do đó làm tăng tác dụng
của insulin. Theo Krall (1985), các dẫn xuất sulfonylurea có tác
dụng kích thích giải phóng ra somatostatin, chính somatostatin ức
chế giải phóng glucagon, cho nên cũng gây hạ glucose máu [7].
1.4.1.3.
Dược động học
-
Thuốc được hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá. Nồng độ
tối đa trong máu đạt được sau khoảng 2 - 4 giờ, gắn rất mạnh vào
protein huyết tương 92 - 99% chủ yếu là albumin. Gắn mạnh nhất là
glibenclamide, gắn kém nhất là clopropamide.
-
Thuốc được chuyển hoá ở gan.
-
Thận là đường thải trừ chủ yếu của các thuốc hạ
glucose máu đường uống.
1.4.1.4.
Tác dụng không mong muốn
-
Hạ đường huyết.
-
Dị ứng
-
Rối loạn tiêu hoá: buồn nôn, nôn, vàng da tắc mật.
-
Tan máu
-
Thoái hoá bạch cầu hạt
-
Phản ứng giống disulfuram khi dùng clopropamid cùng
rượu (gặp khoảng 10 - 15% bệnh nhân).
-
Hạ Natri máu dễ gặp với clopropamid, do có tác dụng
giống ADH gặp ở 50% bệnh nhân.
1.4.1.5.
Thất bại tiên phát và thứ phát của sulfonylurea
Từ
“thất bại của thuốc sulfonylurea” lúc đầu dùng để chỉ sự tồn tại các
triệu chứng của ĐTĐ sau khi đă điều trị bằng sulfonylurea, vào thời
điểm mà mục đích chính của điều trị là làm mất các triệu chứng chứ
không phải là để đạt được mức glucose máu gần với b́nh thường nhất.
Ngày nay, được coi là “thất bại” khi mà với liều sulfonylurea tối
đa vẫn không có tác dụng kiểm soát được glucose máu [ REF
_Ref30317453 \r \h 57] [ REF
_Ref30307850 \r \h 5].
-
Thất bại tiên phát: khi sulfonylurea không kiểm soát
được glucose máu ngay từ khi bệnh được phát hiện. Khoảng 25% bệnh
nhân ĐTĐ typ 2 mới phát hiện rơi vào loại này [ REF _Ref30316463 \r
\h 20].
-
Thất bại thứ phát: khi sulfonylurea sau ít nhất 3
tháng có tác dụng kiểm soát chuyển hoá tốt trở nên giảm tác dụng,
glucose máu lại tiếp tục tăng mặc dù vẫn thực hiện chế độ ăn và liều
tối đa của sulfonylurea [ REF _Ref30318622 \r \h 30].
Khi đó có thể coi là sulfonylurea mất khả năng kích thích tế bào
b của
tụy. Nhưng đúng hơn có lẽ do chức năng của tế bào
b dần
dần bị huỷ hoại, cũng có thể là do có sự tăng đề kháng với insulin
do tăng cân nặng.
Tóm lại,
thất bại thứ phát sulfonylurea là sự thiếu đáp ứng tiếp tục đối với
sulfonylurea liều tối đa, mặc dù điều trị thành công lúc khởi đầu.
Thuật ngữ
“thất bại của thuốc sulfonylurea” đă được đề cập đến từ thập kỷ 60 -
70 nhưng vấn đề này chưa được quan tâm. Từ cuối những năm 80 đến nay
có nhiều tác giả đă quan tâm nghiên cứu về vấn đề này và nhiều quan
điểm điều trị được đưa ra đối với những bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại
thứ phát với sulfonylurea [ REF _Ref30319997 \r \h 52,
REF _Ref30345168 \r \h 59, REF
_Ref30366835 \r \h 44].
Trong t́nh
trạng bị thất bại thứ phát với sulfonylurea th́ việc sử dụng phối
hợp với Metformin hoặc ức chế a
- glucosidase hoặc insulin thường được đặt ra. ở đây, chúng tôi đặt
vấn đề nghiên cứu điều trị kết hợp sulfonylurea với insulin BC buổi
tối khi đi ngủ đối với những BN ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với
sulfonylurea.
1.4.2.
Insulin
Năm 1921, Best và Banting đă
phát hiện ra insulin và đưa vào điều trị ĐTĐ.
insulin là một protein gồm 51 acid amin phân làm hai chuỗi peptid,
chuỗi A gồm 21 acid amin và chuỗi B gồm 30 acid amin nối với nhau
bởi hai cầu nối S-S. Ngoài ra, có cầu nối S-S nối acid amin ở vị trí
số 6 và 11 trong chuỗi A. Trọng lượng phân tử của insulin người là
5808.
insulin lợn và ḅ thường được dùng trong điều trị có cấu trúc chỉ
khác insulin người một chút. insulin lợn khác insulin người bởi một
acid amin, alanin thay thế threonin ở vị trí thứ 30 của chuỗi B.
insulin ḅ có ba acid amin khác alanin thay thế threonin ở vị trí 8
của chuỗi A và 30 của chuỗi B và valin thay thế cho isoleucin ở vị
trí 10 của chuỗi A.
Ngày nay, dựa vào cấu trúc, có thể tổng hợp hoặc tách chiết insulin
của người nhờ kỹ thuật gen thông qua nuôi cấy tế bào ở tụy người. Để
đánh giá tác dụng và độ tinh khiết insulin được quy thành đơn vị
chuẩn quốc tế. Một đơn vị insulin là lượng insulin cần để làm giảm
glucose máu ở thỏ nặng 2,5 kg nhịn đói xuống c̣n 45 mg/100ml và gây
co giật sau khi tiêm 5 giờ.
1.4.2.1.
Cơ chế tác dụng
Tất cả tế bào của người đều có receptor đặc hiệu cho insulin. Thông
qua receptor này, insulin làm hoạt hoá hệ thống vận chuyển glucose ở
màng tế bào, làm cho glucose đi vào trong các tế bào, đặc biệt là tế
bào cơ, gan và tế bào mỡ dễ dàng. Ngoài ra, insulin c̣n làm tăng
hoạt tính của glucokinase, glycogensynthetase, thúc đẩy sự tiêu thụ
glucose và tăng tổng hợp glycogen ở gan. insulin làm giảm sự thuỷ
phân lipid, protid nhưng đồng thời làm tăng sự tổng hợp lipid và
protid từ glucid, kết quả là làm hạ glucose máu.
Tác dụng hạ glucose máu của insulin xuất hiện nhanh chỉ trong ṿng
vài phút sau khi tiêm tĩnh mạch và bị mất tác dụng bởi insulinase.
1.4.2.2.
Phân loại insulin
-
Dựa vào nguồn gốc insulin đươc chia thành 2 loại:
+ insulin có nguồn gốc động vật: insulin lợn, insulin ḅ
+ insulin người
-
Phân loại insulin dựa vào dược động học của insulin,
chia insulin thành 3 nhóm khác nhau [ REF _Ref30363906 \r
\h 25, REF _Ref30316033 \r \h 40]:
+
insulin tác dụng nhanh:
*
insulin thường (regular insulin): có thể tiêm tĩnh
mạch hoặc truyền nhỏ giọt tĩnh mạch, tiêm bắp và tiêm dưới da. Khi
tiêm tĩnh mạch insulin tác dụng tối đa vào lúc 10 - 30 phút, và kéo
dài 1 - 2 giờ. Khi tiêm bắp insulin thường đạt đỉnh tác dụng 30 - 60
phút sau khi tiêm ở bệnh nhân chức năng tuần hoàn b́nh thường và kéo
dài 2 - 4 giờ. Khi tiêm dưới da thời gian xuất hiện tác dụng sau khi
tiêm 1 giờ, đạt tối đa sau 3 giờ và kéo dài tác dụng khoảng 6 giờ.
Thuốc được sử dụng trong hôn mê ĐTĐ, 1ml chứa 20 - 40 đơn vị, có thể
tiêm bắp, tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch.
*
Nhũ dịch insulin - kẽm: chỉ tiêm dưới da; sau khi tiêm
1 giờ bắt đầu có tác dụng và kéo dài khoảng 14 giờ.
+
insulin tác dụng trung gian (insulin bán chậm):
*
Neutral Protamine Hagedorn insulin (insulin NPH) c̣n
được gọi là "isophane insulin", được giới thiệu ở Châu âu năm 1946
và ở Bắc Mỹ năm 1949. insuiln NPH ở dạng nhũ dịch, là pha trộn
insulin và protamine trong một tỷ lệ thích hợp ở pH trung tính với
sự có mặt 1 lượng nhỏ kẽm và phenol. Cứ 100 đơn vị insulin, có thêm
0,4mg protamin. Tiêm dưới da, tác dụng xuất hiện 1 - 4 giờ sau khi
tiêm, đạt đỉnh tác dụng sau 8 - 10 giờ và thời gian tác dụng kéo dài
12 - 20 giờ.
*
Insulin Lente: dạng nhũ dịch, được đưa ra đầu những
năm 1950. Insulin lente có thời gian tác dụng tương tự insulin NPH,
tiêm dưới da bắt đầu tác dụng 2 - 4 giờ sau khi tiêm, đỉnh tác dụng
là 8 - 12 giờ và kéo dài 12 - 20 giờ. V́ vậy có thể sử dụng Insulin
Lente thay thế cho Insulin NPH.
+
insulin tác dụng chậm:
*
insulin protamin kẽm: chế phẩm dạng nhũ dịch, cứ 100
đơn vị insulin có kèm theo 0,2mg protamin. Tác dụng xuất hiện sau
khi tiêm dưới da 4 - 6 giờ và kéo dài tác dụng 37 giờ.
*
insulin kẽm tác dụng rất chậm (Ultralente insulin):
tiêm dưới da, thời gian xuất hiện tác dụng và kéo dài tác dụng gần
giống insulin protamin kẽm.
Bảng 1.3:
Dược lư học các loại insulin [ REF _Ref30316558 \r \h
42]
|
Loại insulin |
Thời gian hoạt động |
|
Bắt đầu
(giờ) |
Đỉnh
(giờ) |
Thời gian tác dụng (giờ) |
Thời gian hết tác dụng (giờ) |
|
Tác dụng
nhanh
Lispo
Regular |
< 0,25
0,5 - 1 |
0,5 - 1,5
2 - 3 |
3 - 4
3 - 6 |
4 - 6
6 - 8 |
|
Tác dụng
trung gian
NPH
Lente |
2 - 4
3 - 4 |
6 - 10
6 - 12 |
10 - 16
12 - 18 |
14 - 18
16 - 20 |
|
Tác dụng
kéo dài
Ultralente
Glargine |
6 - 10
4 |
10 - 16
* |
18 - 20
24 |
20 - 24
>24 |
|
Kết hợp:
75/25
(75%NPH, 25%regular)
70/30
(70%NPH, 30%regular)
50/50
(50%NPH, 50%regular) |
0,5 - 1
0,5 - 1
0,5 - 1 |
2 đỉnh
2 đỉnh
2 đỉnh |
10 - 16
10 - 16
10 - 16 |
14 - 18
14 - 18
14 - 18 |
* Glargine có
đỉnh tác dụng thấp.
1.4.2.3.
Tác dụng không mong muốn
Nh́n chung, insulin
rất ít độc, nhưng cũng có thể gặp:
-
Dị ứng: có thể xuất hiện sau khi tiêm lần đầu hoặc sau
nhiều lần tiêm insulin, tỷ lệ dị ứng nói chung thấp.
-
Hạ đường huyết: thường gặp khi tiêm insulin quá liều,
gây vă mồ hôi, hạ thân nhiệt, co giật, thậm chí hôn mê.
-
Phản ứng tại chổ tiêm: ngứa, đau, cứng hoặc u mỡ vùng
tiêm. Để tránh tác dụng phụ này, nên thay đổi vị trí tiêm thường
xuyên.
1.4.3.
Các nhóm thuốc khác
-
Dẫn xuất của Biguanid: các dẫn xuất của biguanid gồm
Buformin, Phenformin (Phenethylbiguanid), và Metformin
(Dimethylbiguanid) có cấu trúc hoàn toàn khác với dẫn xuất
sulfonylurea. Hiện nay, chỉ có Metformin c̣n được dùng rộng răi trên
lâm sàng. Cơ chế tác dụng chính là làm tăng tính thấm màng tế bào
đối với glucose, tăng sử dụng glucose ở tổ chức ngoại vi chủ yếu là
tổ chức cơ, làm giảm hấp thu glucose ở ruột non, tăng tổng hợp
glycogen; giảm tân tạo glucose trong gan, giảm phân huỷ đường trong
gan.
-
Nhóm ức chế
a-glucosidase
(Acarbose): Cơ chế tác dụng của thuốc không liên quan đến sự bài
tiết insulin ở tế bào
b của
tụy mà thông qua sự ức chế
a-glucosidase
ở bờ bàn chải niêm mạc ruột. Ngoài ra thuốc c̣n ức chế sacchase,
Glucoamylase, maltase ở ruột và làm giảm hấp thu đường, gây giảm
glucose máu sau ăn.
-
Nhóm thuốc mới:
+
Meglitinide (Repaglinide): Có tác dụng kích thích tế bào
b tiết insulin nhưng ngắn.
Có nhiều tác dụng phụ.
+
Thiazolidinediones:
đại diện cho một nhóm thuốc mới làm giảm t́nh trạng kháng insulin.
Thiazolidinediones làm giảm glucose máu lúc đói bằng cách cải thiện
sử dụng đường ở ngoại vi và t́nh trạng kháng insulin.
1.5.
Vai tṛ của insulin khi đi ngủ (bedtime insulin)
1.5.1.
Cơ sở hợp lư của việc kết hợp điều trị Insulin với
sulfonylurea
Cho đến nay, người ta cho rằng trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ typ 2
có 3 yếu tố chính, đó là: tăng sản xuất đường ở gan , giảm tiết
insulin ở tụy và t́nh trạng kháng insulin ngoại vi xảy ra chủ yếu ở
gan, cơ [ REF _Ref30319551 \r \h 19,
REF _Ref30358342 \r \h 35]. T́nh
trạng kháng insulin ngoại vi và giảm tiết insulin của tế bào
b tụy là
những bất thường sớm và tiên phát, nhưng tăng tổng hợp đường ở gan
là sự xuất hiện muộn và thứ phát. ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, trong giai
đoạn sớm của bệnh, tế bào
b tụy
tăng tiết insulin để đáp ứng với t́nh trạng kháng insulin ở mô ngoại
vi [ REF _Ref30319577 \r \h 54]. Khi
sự tăng tiết insulin của tế bào
b tụy
không thể kéo dài tương ứng để thắng t́nh trạng kháng insulin ngày
càng tăng th́ glucose máu bắt đầu tăng. Trong quá tŕnh tiến triển
của bệnh, khả năng tiết insulin của tế bào
b tụy
giảm dần, và kết quả cuối cùng là hầu hết bệnh nhân ĐTĐ typ 2 không
thể đạt được sự kiểm soát glucose máu tốt với nhóm sulfonylurea
(thuốc kích thích tế bào
b tụy
tiết insulin).
ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, bên cạnh sự giảm tiết insulin và t́nh trạng
kháng insulin ngoại vi, tăng sản xuất đường ở gan đồng thời có vai
tṛ quan trọng trong nguyên nhân của tăng glucose máu v́ sản xuất
đường ở gan là yếu tố quyết định tiên phát của nồng độ glucose máu
lúc đói ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 [ REF _Ref30315809 \r \h 47].
ở trạng thái cơ bản, sản xuất đường của gan đủ để duy tŕ hoạt động
của năo giữa các bữa ăn. Sau khi ăn, glucose máu tăng, insulin được
tiết ra sẽ ức chế gan sản xuất đường. Nếu không có hiện tượng này
glucose máu sẽ tăng cao do hai nguồn gốc: đường được sản xuất từ gan
và được hấp thu từ ruột.
ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, glucose máu lúc đói liên quan mật thiết với
sự sản xuất đường từ gan. Về đêm, khi bệnh nhân ngủ, nồng độ insulin
máu ở mức thấp nhất do đó sản xuất đường của gan đặc biệt tăng mạnh.
V́ vậy, giảm sản xuất đường ở gan ban đêm có tính chất quyết định để
cải thiện việc kiểm soát glucose máu ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2. Do đó
khi bệnh nhân ĐTĐ typ 2 không c̣n đáp ứng với sulfonylurea có thể
tiêm thêm insulin trước khi đi ngủ nhằm ức chế sản xuất đường ở gan
và ngăn sự tăng glucose máu buổi sáng [ REF _Ref30315699 \r \h 55].
Nếu mức glucose máu lúc đói giảm, th́ glucose máu trong ngày thường
được cải thiện. Bằng sự kết hợp Sulfonylurea với insulin bán chậm
buổi tối khi đi ngủ, sản xuất đường ở gan có thể bị ức chế và cải
thiện sự tăng glucose máu lúc đói và đạt được kiểm soát glucose máu
tốt [ REF _Ref30360467 \r \h 12, REF
_Ref30345168 \r \h 59].
Điều trị kết hợp một sulfonylurea với insulin lúc đi ngủ là một biện
pháp có hiệu quả để cải thiện kiểm soát glucose máu và thắng sự thất
bại thứ phát sulfonylurea. Cơ sở hợp lư của sự điều trị kết hợp
sulfonylurea với insulin được đặt trên sự giả định rằng: nếu
insulin buổi tối làm giảm nồng độ glucose máu lúc đói về b́nh
thường, th́ sau đó sulfonylurea ban ngày sẽ có hiệu quả nhiều hơn
trong kiểm soát tăng glucose máu sau ăn và duy tŕ glucose máu tốt
suốt cả ngày. Mức GM lúc đói giảm xuống sẽ giúp cho sulfonylurea đạt
hiệu quả kích thích tế bào
b tụy
tiết insulin tốt hơn. Mặt khác, điều trị sulfonylurea làm tăng nồng
độ insulin trong tĩnh mạch cửa do đó làm tăng nồng độ insulin đi vào
gan, v́ vậy có tác dụng làm giảm sản xuất đường ở gan sau khi ăn.
Hơn thế nữa, sulfonylurea có thể làm tăng hiệu lực tác dụng của
insulin trên mô đích (cơ) do đó gián tiếp làm tăng chuyển hoá đường.
Mức glucose máu giảm sẽ cải thiện được t́nh trạng ngộ độc đường của
tế bào b
và các mô nhạy cảm insulin do GM tăng [ REF _Ref30363493 \r \h 21,
REF _Ref30363500 \r \h 13].
Về mặt chuyển hoá của ĐTĐ typ 2 đă chứng minh rơ ràng rằng, glucose
máu lúc đói chi phối nhiều đến glucose máu trong ngày, làm thay đổi
glucose máu sau ăn [ REF _Ref30315976 \r \h 45].
Ngoài ra, nồng độ glucose máu lúc đói cao liên quan với mức độ sản
xuất đường ở gan trong thời gian những giờ sáng sớm [ REF
_Ref30315996 \r \h 24]. Sự sản xuất
đường ở gan giảm do tác dụng trực tiếp của insulin [ REF
_Ref30316012 \r \h 53], và gián tiếp
bởi tác dụng giảm ly giải mô mỡ của insulin, do đó làm giảm nồng độ
a xít béo tự do và giảm sự tân tạo đường [ REF _Ref30315899 \r \h 31,
REF _Ref30315946 \r \h 51].
Mặt khác, glucose máu được kiểm soát chính xác bằng hoạt động cân
bằng của insulin và các hormon đối lập, như glucagon, epinephrine,
norepinephrine, cortisol và hormon tăng trưởng. insulin bán chậm
tiêm vào lúc đi ngủ có đỉnh tác dụng trùng hợp với hiện tượng kháng
insulin buổi sáng sớm, thường xảy ra trong khoảng từ 3 - 7 giờ sáng.
Tiêm insulin bán chậm lúc đi ngủ làm tăng nồng độ insulin máu buổi
sáng và v́ vậy, có thể giúp giảm glucose máu sau ăn sáng ngoài việc
giảm glucose máu lúc đói.
Ngoài ra, tiêm insulin bán chậm lúc đi ngủ (9 - 10 giờ tối) có khả
năng đạt đỉnh tác dụng khi bệnh nhân ngủ dậy (khoảng 6 giờ) [ REF
_Ref30316033 \r \h 40], do đó không
gây hạ glucose máu trong khi ngủ, đặc biệt ở người già.
1.5.2.
Một số công tŕnh nghiên cứu:
Một số nghiên cứu đă chứng minh sự thành công của chế độ điều trị
kết hợp sulfonylurea và insulin ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 không đáp ứng
với sulfonylurea liều tối đa.
Riddle và cộng sự (1995) đă tiến hành nghiên cứu để đánh giá hiệu
quả lâm sàng của điều trị kết hợp sulfonylurea và insulin [ REF
_Ref30319708 \r \h 46]. Trong nghiên
cứu này, có 20 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 béo ph́ vừa phải, có thời gian bị
bệnh dưới 15 năm và điều trị liều sulfonylurea tối đa nhưng kiểm
soát glucose máu kém (Glyburide 10mg hai lần/ngày) được chỉ định
ngẫu nhiên trong 4 tháng, mù đôi, kiểm soát giả dược suốt quá tŕnh
nghiên cứu. Trong một mục đích của nghiên cứu, những người tham dự
sử dụng một mũi tiêm insulin NPH vào buổi tối và glyburide 10mg vào
buổi sáng. ở mục đích khác, những người tham dự được dùng insulin
và giả dược (placebo). Liều lượng insulin được điều chỉnh bởi bác sỹ
nội tiết có kinh nghiệm để đảm bảo kiểm soát glucose máu an toàn.
Kết thúc nghiên cứu cho thấy, điều trị kết hợp glyburide và insulin
buổi tối là tốt hơn so với dùng insulin buổi tối đơn độc (HbA1C:
9,8 ±
0,1% so với 10,6
± 0,2%).
Mặc dù cân nặng, huyết áp và nồng độ lipid máu là tương tự ở hai
chế độ điều trị. Kết quả từ nghiên cứu này là một trong số gợi ư đầu
tiên rằng, ở bệnh nhân không đáp ứng với điều trị sulfonylurea
liều tối đa, sự thêm vào của một liều insulin NPH vào buổi tối tốt
hơn so với nhiều mũi tiêm insulin hoặc một mũi tiêm Insulin đơn độc,
có thể đại diện một quan điểm điều trị đơn giản để đạt được kiểm
soát glucose máu.
DeFronzo và đồng nghiệp (1995) là những người đầu tiên chứng minh
hiệu quả lâu dài của chế độ điều trị Insulin khi đi ngủ kết hợp với
sulfonylurea ban ngày [ REF _Ref30318214 \r \h 48].
Trong thiết kế nghiên cứu này, 30 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 không đáp ứng
điều trị với một sulfonylurea đường uống chuyển sang glipizide
trong 2 tháng (nhóm 1) để xác nhận sự thiếu đáp ứng với sulfonylurea
. Và sau đó được phân ngẫu nhiên thành 3 nhóm: Insulin khi đi ngủ
kết hợp với sulfonylurea ban ngày (nhóm 2), Insulin khi đi ngủ
không dùng sulfonylurea ban ngày (nhóm 3), và sulfonylurea ban
ngày không dùng Insulin khi đi ngủ (nhóm 4). Trong thời gian nhóm 2
(3 tháng), liều Insulin khi đi ngủ được xác định ở một liều thấp (20U/1,73m2).
Trong thời gian tiếp 3 tháng, ở nhóm 3 liều insulin khi đi ngủ là
cao (40U/1,73m2) để đạt được kiểm soát glucose
máu tốt hoặc đến khi các triệu chứng hạ đường huyết đă ngăn chặn
tăng lên. Trong nhóm 4 (6 tháng), 25 của 30 người tham dự đầu tiên
được nhận nhăn hiệu mở, liều cao insulin khi đi ngủ - sulfonylurea
ban ngày. Kết thúc của nhóm 2, liều thấp insulin khi đi ngủ -
sulfonylurea ban ngày làm giảm có ư nghĩa glucose máu lúc đói từ
244 ± 14
xuống 144 ±
11mg/dl, HbA1C từ 8,9
± 0,7%
đến 7,6 ±
0,3%, và giảm sản xuất đường ở gan. Có một sự tương quan dương tính
mạnh (r = 0,69; p < 0,05) giữa giảm glucose máu lúc đói và sản
xuất đường ở gan. Ngược lại, không phải liều thấp insulin khi đi ngủ
đơn độc mà cũng không phải sulfonylurea ban ngày một ḿnh làm giảm
glucose máu lúc đói, HbA1C, hoặc sản xuất đường ở gan. ở
nhóm 3, liều cao (40
±
5U/ngày)insulin khi đi ngủ với sulfonylurea ban ngày làm giảm có ư
nghĩa glucose máu lúc đói đến 113
±
11mg/dl, HbA1C đến 7,1
± 0,3%,
và sản xuất đường ở gan. Mặt khác, mặc dù liều cao insulin khi đi
ngủ đơn độc (38
± 4U/ngày) đă cải thiện glucose máu lúc đói, HbA1C,
và sản xuất đường ở gan cơ bản đến một mức độ tương tự như liều thấp
insulin khi đi ngủ với sulfonylurea ban ngày, sự cải thiện đó là nhỏ
hơn so với liều cao insulin khi đi ngủ với sulfonylurea ban ngày.
Trong nhóm 4, không chú ư tới điều trị ưu tiên, glucose máu lúc đói
và HbA1C được kiểm soát trong tất cả đối tượng. Như trong
những nghiên cứu khác, các đối tượng trong nghiên cứu này cân nặng
tăng lên trong điều trị insulin khi đi ngủ - sulfonylurea ban ngày.
Các tác giả khác đă kết luận rằng: mặc dù cả hai insulin khi đi ngủ
với sulfonylurea ban ngày và liều cao insulin khi đi ngủ (40 U/1,73m2)
cải thiện glucose máu ở những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị
sulfonylurea, insulin khi đi ngủ với sulfonylurea ban ngày cả liều
thấp và liều cao đều đạt hiệu quả hơn insulin khi đi ngủ đơn độc.
Hơn nữa, nghiên cứu này đă chứng minh rằng kiểm soát glucose máu tốt
trong thời gian dài (trên 12 tháng) có thể đạt được với sự kết hợp
điều trị insulin khi đi ngủ - sulfonylurea ban ngày.
1.5.3.
Những lợi ích của sự điều trị kết hợp
Qua các
nghiên cứu, các tác giả thống nhất những lợi ích của insulin bán
chậm lúc đi ngủ [ REF _Ref30315588 \r \h 39]:
-
Lợi ích trên chuyển hoá:
+
Giảm glucose máu lúc đói và sau ăn
+
Trực tiếp ức chế quá tŕnh tân tạo đường ở gan
+
Làm giảm nồng độ a xít béo tự do, do đó gián tiếp ngăn sự sản
xuất đường ở gan. Giảm hiện tượng kháng insulin buổi sáng sớm
-
Lợi ích thực tế:
+
Đơn giản để hướng dẫn cho BN, dễ dàng áp dụng cho BN ngoại
trú.
+
Bệnh nhân không cần phải biết các loại insulin khác nhau thế
nào.
+
Bệnh nhân với một mũi tiêm có thể chấp nhận dễ dàng hơn so
với hai hoặc nhiều mũi tiêm mỗi ngày. Tổng liều insulin cần thiết ít
hơn so với hai hoặc ba mũi tiêm hàng ngày, và thường ít gây tăng
cân.
Chương 2
Đối tượng và
phương pháp nghiên cứu
2.1.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi gồm 30 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 điều
trị thất bại thứ phát với nhóm Sulfonylurea được điều trị nội trú
và theo dơi ngoại trú tại khoa Nội tiết và ĐTĐ Bệnh viện Bạch mai.
2.1.1.
Tiêu chuẩn chọn BN
-
Tất cả BN được chẩn đoán ĐTĐ typ 2 đang điều trị bằng
nhóm Sulphonylurea với liều tối đa không kiểm soát được GM:
+
Glucose máu lúc đói luôn luôn cao > 7,8mmol/l.
+
Glucose máu sau ăn 2 giờ luôn luôn cao > 10mmol/l
+
HbA1C > 7,5%
-
BN dùng thuốc theo đúng chỉ dẫn:
+
Bệnh nhân tiếp tục dùng loại sulfonylurea liều tối đa như cũ
+
Không tự ư bỏ thuốc hoặc giảm liều
2.1.2.
Tiêu chuẩn loại trừ BN
Các BN được loại
trừ ra khỏi nghiên cứu nếu có một trong những yếu tố sau:
-
Các BN không phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn BN.
-
BN có bệnh cấp tính như: lao phổi, nhiễm khuẩn huyết,
hôn mê do chuyển hoá hoặc do nguyên nhân khác, tự dùng thuốc hoặc bỏ
thuốc không theo chỉ dẫn.
-
Các BN đang sử dụng các thuốc có ảnh hưởng đến nồng độ
GM, lipid máu như: thuốc lợi tiểu nhóm thiazide, corticoid, thuốc
chẹn b
giao cảm, thuốc tránh thai có oestrogen...
-
Những BN mất máu cấp hoặc mạn, thiếu sắt, xuất huyết
tiêu hoá, nhiễm sắc tố sắt, tán huyết, hội chứng urê huyết cao, một
số bệnh huyết sắc tố (Bệnh huyết sắc tố F, bệnh khuyết sắc tố C, D,
S).
-
Suy gan, suy thận nặng.
-
Bệnh nhân không có điều kiện theo dơi.
2.2.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.
Tất cả BN thuộc diện nghiên cứu được làm bệnh án theo mẫu
riêng
2.2.1.1.
Hỏi bệnh
-
Tiền sử gia đ́nh (bố, mẹ, anh chị em ruột) về ĐTĐ
-
Tiền sử bản thân:
+
Thời gian được chẩn đoán ĐTĐ.
+
Thuốc sulfonylurea đang điều trị: tên thuốc, liều lượng dùng
hàng ngày.
+
Các biến chứng mạn tính của ĐTĐ như: biến chứng thần kinh,
tim mạch, thận, mắt¼
2.2.1.2.
Khám lâm sàng
Tất cả bệnh nhân nghiên cứu được khám lâm sàng tỷ mỷ, toàn diện,
trong đó chú ư:
-
Đo chiều cao, cân nặng và tính chỉ số khối cơ thể
(BMI)
BMI = cân nặng(kg) / chiều cao(m)2
Cách đo:
+
Chiều cao đứng: đối tượng đi chân đất đứng ở tư thế nghiêm,
hai gót chân chạm nhau, hai tay buông thẳng bàn tay áp vào mặt ngoài
đùi. Bốn điểm phía sau là chẩm, lưng, mông và gót chạm vào thuớc đo.
Thước đo là thước ê ke gắn cố định, thanh ngang của thước được đưa
từ trên xuống chạm vào điểm cao nhất của đầu. Số đo được tính chính
xác đến 0,1cm.
+
Cân nặng: đối tượng đứng cân trên cân mặc quần áo nhẹ, cân
nặng được tính chính xác đến 0,1kg. Đo bằng cân bàn TANAKA của Nhật.
-
Đo huyết áp:
+
BN nghỉ ngơi 15 - 20 phút trước khi đo.
+
Đo ở hai tay ở tư thế nằm bằng huyết áp đồng hồ với băng
huyết áp theo tiêu chuẩn, cuốn trên nếp khuỷu 2cm.
+
Đo huyết áp hai lần cách nhau 5 phút, kết quả tính bằng số đo
trung b́nh của hai lần đo.
2.2.1.3.
Cận lâm sàng
Tất cả BN được làm các xét nghiệm sau tại khoa Sinh hoá bệnh viện
Bạch mai:
-
Định lượng GM tĩnh mạch lúc đói buổi sáng bằng phương
pháp men glucoz oxydaz trên máy Humanizer.
-
Định lượng các thành phần lipid máu: lấy máu tĩnh mạch
buổi sáng sau khi đă nhịn ăn khoảng 10 - 12 giờ. Máu được quay ly
tâm, tách lấy huyết thanh tươi và tiến hành định lượng ngay.
+
Định lượng các thành phần lipid máu CT và TG bằng
phương pháp enzym so màu.
+
HDL - C được định lượng trực tiếp.
-
HbA1C: tỷ lệ % của glycosylated hemoglobin
(HbA1C) được xác định bằng phép sắc kư cột tṛn thay đổi
ion trên máy DiaStat của hăng Biorad.
-
BN nghiên cứu được làm một số xét nghiệm cơ bản khác
tại khoa sinh hoá Bệnh viện Bạch mai:
+
Xét nghiệm chức năng gan thận: GOT, GPT, creatinin¼
+
Định tính: protein niệu, đường niệu, ceton niệu¼
2.2.2.
Hướng dẫn và kiểm soát bệnh nhân nghiên cứu
Tất cả BN được hướng dẫn cẩn thận, tỉ mỉ, cách lấy insulin, cách
tiêm insulin, cất giữ bảo quản insulin trong quá tŕnh điều trị và
theo dơi ngoại trú.
-
Cách lấy thuốc: BN sử dụng bơm tiêm 1ml có vạch chia
rơ ràng từng 0,1ml. Hướng dẫn BN cách lấy insulin theo vạch chia của
bơm tiêm 1ml; cứ 0,1ml tương ứng 4 đơn vị insulin.
-
Cách tiêm insulin: tiêm dưới da theo hướng dẫn lúc 21
giờ và không ăn thêm sau khi tiêm.
-
Hướng dẫn bảo quản insulin theo đúng quy định.
2.2.3.
Thực hiện phác đồ điều trị
-
Tất cả BN nghiên cứu sẽ tiếp tục điều trị loại
sulfonylurea với liều tối đa đang dùng.
Ví dụ: Gliclazide 320 mg/ngày
Glybenclamide (Glybenhexal 14mg/ngày)
Glyburid 20 mg/ngày¼
-
Phương pháp sử dụng liều Insulin bán chậm khi thêm
một mũi tiêm insulin BC lúc 21 giờ, với:
+
Liều khởi đầu là: 0,1đv /kg [ REF _Ref30319875 \r \h
22]
+
Tăng liều insulin khi kiểm tra GM lúc đói buổi sáng [
REF _Ref30316463 \r \h 20]
Nếu GM 7,8 - 8,8mmol/l th́ tăng 2 đơn vị Insulin.
Nếu GM > 8,8mmol/l th́ tăng 4 đơn vị Insulin.
Duy tŕ liều insulin nếu GM 3,8 - 7,8mmol/l.
+ Nếu GM đói < 3,8 mmol/l th́ giảm liều Insulin.
-
Tất cả BN được sử
dụng loại insulin bán chậm: Insulatard NPH của Novo Nordisk.
2.2.4.
Theo dơi điều trị
-
Tất cả BN điều trị
nội trú được kiểm tra GM lúc đói buổi sáng hàng ngày và được điều
chỉnh liều Insulin sau 3 ngày nếu GM cao > 7,8mmol/l (như phác đồ ở
phần 2.2.3.). Sau một thời gian điều trị GM lúc đói buổi sáng
£ 7,8mmol/l BN được ra
viện theo dơi điều trị ngoại trú cách 2 tuần khám lại 1 lần.
-
Mỗi lần khám BN được làm xét nghiệm GM tĩnh mạch lúc
đói buổi sáng, đo huyết áp và cân nặng và điều chỉnh liều insulin
cho phù hợp.
-
Sau 12 tuần theo
dơi điều trị BN được làm lại các xét nghiệm: định lượng GM lúc đói
buổi sáng, các thành phần lipid máu, HbA1C, đo cân nặng,
tính BMI.
2.3.
Nhận định và đánh giá kết quả
2.3.1.
Đánh giá béo ph́ dựa vào BMI
Đối với người châu á theo khuyến cáo của TCYTTG tháng 2/2000 BMI
được coi là b́nh thường ở mức 18,5 - 22,9, khi BMI
³ 23
được gọi là tăng cân (béo) [ REF _Ref30318308 \r \h 1].
-
BMI từ 23 - 24,9: tăng cân.
-
BMI từ 25 - 29,9: béo độ 1.
-
BMI từ > 30: béo độ 2.
2.3.2.
Đánh giá kết quả GM lúc đói, cân nặng và liều insulin
-
Tính GM lúc đói trung b́nh.
-
Tính liều insulin BC trung b́nh theo cân nặng, theo
ngày.
-
Tính cân nặng trung b́nh.
2.3.3.
Phương pháp so sánh
So sánh trước khi điều trị insulin BC lúc 21 giờ và sau 12 tuần điều
trị insulin BC lúc 21 giờ trị số trung b́nh của:
-
GM lúc đói
-
HbA1C
-
Cân nặng, BMI
-
Cholesterol, triglycerid
Từ sự so sánh trên
nhận xét về sự thay đổi trước và sau khi điều trị kết hợp
sulfonylurea với insulin BC khi đi ngủ.
2.4.
Xử lư số liệu
-
Các số liệu thu thập được chúng tôi xử lư theo thuật
toán thống kê trên máy vi tính sử dụng chương tŕnh phần mềm SPSS
10.0.
-
Để so sánh 2 giá trị trung b́nh chúng tôi sử dụng test
“t”.
-
Để so sánh 2 tỷ lệ chúng tôi sử dụng test “c2”
-
Các test thống kê được kiểm định với mức khác biệt
được coi là có ư nghĩa khi p < 0,05.
-
Tính giá trị trung b́nh và độ lệch chuẩn (SD)
Chương 3
Kết quả nghiên cứu
3.1.
T́nh h́nh chung BN nghiên cứu
3.1.1.
T́nh h́nh BN theo tuổi, giới
Từ tháng 10/2001 - 11/2002 chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 30 BN
ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea, gồm:
-
Nam: 5 BN chiếm tỷ lệ 16,7%.
-
Nữ: 25 BN chiếm tỷ lệ 83,3%.

Tuổi trung b́nh của BN nghiên cứu là: 65,87
± 11,06
tuổi. Trong đó, BN tuổi có thấp nhất là 43, BN có tuổi cao nhất
là 87.
Bảng 3.1: Phân bố BN theo tuổi
|
Nhóm tuổi (tuổi) |
Số BN |
Tỷ lệ % |
|
< 50 |
2 |
6,7 |
|
50 - 59 |
5 |
16,7 |
|
60 - 69 |
11 |
36,6 |
|
70 - 79 |
10 |
33,3 |
|
³ 80 |
2 |
6,7 |
|
Tổng số |
30 |
100 |
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chủ yếu BN trong độ tuổi từ 50 - 79
tuổi chiếm 86,6%.
3.1.2.
Chỉ số khối cơ thể (BMI)
Các BN trong nghiên cứu của chúng tôi có BMI trung b́nh là 23,18
± 3,39;
BN có BMI thấp nhất là 17,7; BN có BMI cao nhất là 33,7.

Biểu đồ 3.2: Phân bố tỷ lệ BMI
Trong 30 BN của chúng tôi có 16 BN có BMI < 23 chiếm 53,4% và 14
BN có BMI ³
23 chiếm 46,6%.
Bảng 3.2: So sánh tỷ lệ BN ở 2 nhóm BN béo và BN không béo.
|
BMI |
Số BN |
Tỷ lệ % |
p |
|
< 23 (Không béo) |
16 |
53,4% |
> 0,05 |
|
³
23 (Béo) |
14 |
46,6% |
Khi so sánh tỷ lệ % BN ở 2 nhóm, nhóm BN béo (BMI
³ 23) và
nhóm BN không béo (BMI < 23) cho thấy không có sự khác biệt giữa 2
nhóm
3.1.3.
Thời gian mắc bệnh ĐTĐ
Bảng 3.3: Phân
bố thời gian mắc bệnh ĐTĐ
|
Thời gian ĐTĐ (năm) |
Số BN |
Tỷ lệ % |
|
< 5 |
13 |
43,3 |
|
5 - 10 |
13 |
43,3 |
|
> 10 |
4 |
13,4 |
|
Tổng số |
30 |
100 |
Các BN trong nghiên cứu của chúng tôi có thời gian mắc bệnh ĐTĐ
trung b́nh là 6,27
± 3,97
năm; BN có thời gian mắc bệnh ĐTĐ thấp nhất là 1 năm và BN có
thời gian mắc bệnh ĐTĐ lâu nhất là 16 năm. Số BN có thời gian mắc
bệnh ĐTĐ ³
5 năm chiếm 56,7%.
3.1.4.
Loại sulfonylurea BN đang dùng
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 18 BN đang dùng Gliclazide 80mg
(Diamicron, Predian) liều tối đa 320mg/ngày, chiếm tỷ lệ 60%; và 12
BN đang dùng Glybenclamide (Glybenhexal 3,5mg) liều tối đa
14mg/ngày, chiếm tỷ lệ 40%. Không có BN nào sử dụng các loại
sulfonylurea khác.

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ các loại sulfonylurea BN đang dùng
3.1.5.
Glucose máu và tỷ lệ HbA1C trước khi tiêm thêm một
mũi insulin bán chậm lúc 21 giờ
-
Trong nghiên cứu của chúng tôi, GM lúc đói buổi sáng
trung b́nh của BN trước khi tiêm insulin bán chậm là 12,67
±
2,14mmol/l; GM lúc đói của BN thấp nhất là 8,3mmol/l và cao nhất là
16,7mmol/l.
-
Trung b́nh glucose máu sau ăn sáng 2 giờ của bệnh nhân
nghiên cứu là 15,99
±
3,04mmol/l; GM sau ăn 2 giờ của bệnh nhân thấp nhất là 11,8mmol/l và
cao nhất là 22,8mmol/l.
-
Tỷ lệ HbA1C trung b́nh trước khi tiêm
insulin bán chậm buổi tối ở bệnh nhân nghiên cứu là 10,21
± 1,68%.
BN có tỷ lệ HbA1C thấp nhất là 7,6% và cao nhất là 14,4%.
3.2.
Kết quả Glucose máu lúc đói và tỷ lệ HbA1C
sau tiêm thêm insulin bán chậm
3.2.1.
Kết quả glucose máu lúc đói
3.2.1.1.
Thay đổi GM lúc đói sau khi tiêm thêm insulin bán chậm
Bảng 3.4: Thay
đổi GM lúc đói sau khi tiêm thêm insulin BC khi đi ngủ
Thời gian
|
Số BN |
GM trung b́nh
(mmol/l) |
Độ lệch |
|
Trước tiêm insulin BC |
30 |
12,67 |
2,14 |
|
Sau 2 tuần tiêm insulin BC |
30 |
8,42 |
1,92 |
|
Sau 4 tuần tiêm insulin BC |
30 |
8,31 |
2,03 |
|
Sau 6 tuần tiêm insulin BC |
30 |
8,33 |
1,86 |
Sau 8 tuần tiêm insulin BC
|
30 |
8,21 |
2,23 |
|
Sau 10 tuần tiêm insulin BC |
30 |
8,22 |
1,25 |
|
Sau 12 tuần tiêm insulin BC |
30 |
8,02 |
2,69 |
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy GM lúc đói buổi sáng giảm
dần sau khi tiêm thêm insulin BC. GM lúc đói giảm nhiều sau 2 tuần
tiêm thêm insulin BC lúc 21 giờ tối và ổn định từ tuần thứ 2 - 12.
Như vậy, insulin BC tiêm dưới da lúc 21 giờ có tác dụng làm giảm GM
lúc đói buổi sáng ở BN ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea.

Bảng 3.5: Phân bố bệnh nhân theo thay đổi mức GM lúc đói trong
quá tŕnh tiêm thêm insulin bán chậm lúc 21 giờ.
|
Thời gian |
Tỷ lệ bệnh nhân |
|
GM <
7,8mmol/l |
GM 7,8
- 8,8mmol/l |
GM >
8,8mmol/l |
Tổng |
|
Trước tiêm insulin BC |
0% |
3,3% |
96,7% |
100% |
|
Sau 2 tuần tiêm insulin BC |
36,7% |
20% |
43,3% |
100% |
|
Sau 4 tuần tiêm insulin BC |
43,3% |
30% |
26,7% |
100% |
|
Sau 12 tuần tiêm insulin BC |
60% |
3,3% |
36,7% |
100% |
Kết quả bảng trên cho thấy, sau 2 tuần tiêm insulin bán chậm lúc 21
giờ có 36,7% số bệnh nhân đạt được GM lúc đói < 7,8mmol/l, sau 4
tuần có 43,3% số bệnh nhân đạt GM lúc đói < 7,8mmol/l và sau 12 tuần
có 60% số bệnh nhân đạt được GM lúc đói < 7,8mmol/l.
3.2.1.2.
So sánh GM lúc đói trước và sau khi tiêm thêm một mũi insulin
bán chậm lúc 21 giờ
Bảng 3.6: So sánh
GM lúc đói trước và sau 2 tuần tiêm thêm insulin BC
Thời gian
|
Số BN |
GM trung b́nh (mmol/l) |
p |
|
Trước tiêm insulin BC |
30 |
12,67 ±
2,14 |
< 0,001 |
Sau 2
tuần tiêm insulin BC
|
30 |
8,42 ±
1,92 |
Khi so sánh GM lúc đói buổi sáng trước và sau 2 tuần tiêm thêm
insulin BC lúc 21 giờ ta thấy GM lúc đói giảm rơ rệt sau 2 tuần tiêm
thêm insulin BC, với p < 0,001.
Bảng 3.7: So sánh
GM lúc đói trước và sau 12 tuần tiêm thêm insulin BC
Thời gian
|
Số BN |
GM trung b́nh (mmol/l) |
p |
|
Trước tiêm insulin BC |
30 |
12,67 ±
2,14 |
< 0,001 |
Sau 12
tuần tiêm insulin BC
|
30 |
8,02 ±
2,69 |
Kết quả so sánh GM lúc đói buổi sáng trước khi tiêm insulin BC khi
đi ngủ và sau 12 tuần tiêm thêm 1 mũi insulin BC cho thấy GM lúc đói
buổi sáng giảm rơ rệt sau 12 tuần điều trị. Sự khác biệt này có ư
nghĩa thống kê với p < 0,001. Như vậy, sử dụng insulin BC
chậm lúc 21 giờ tối làm giảm có ư nghĩa GM lúc đói buổi sáng ở BN
ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea.
3.2.2.
Kết quả tỷ lệ HbA1C trước và sau 12 tuần điều trị
kết hợp với insulin BC khi đi ngủ


Biểu đồ trên cho thấy, sau 12 tuần tiêm insulin bán chậm lúc 21 giờ
có 6,7% số bệnh nhân đạt được kiểm soát GM tốt (HbA1C <
6,5%), và 43,3% số bệnh nhân đạt được kiểm soát GM vừa phải (HbA1C:
6,5 - 7,5%).
Bảng 3.8: So sánh tỷ lệ HbA1C trước và sau 12 tuần
điều trị kết hợp thêm một mũi insulin BC
|
Thời gian |
Số BN |
HbA1C trung b́nh (%) |
p |
|
Trước
tiêm insulin BC |
30 |
10,21 ±
1,68 |
< 0,001 |
|
Sau 12
tuần tiêm insulin BC |
30 |
7,86 ±
1,28 |
Trong nghiên cứu của chúng tôi, so sánh tỷ lệ HbA1C trước
và sau 12 tuần tiêm thêm một mũi insulin BC lúc 21 giờ, tỷ lệ HbA1C
giảm rơ rệt sau 12 tuần điều trị (với p < 0,001). Điều này chứng tỏ
tiêm thêm một mũi insulin BC lúc 21 giờ sẽ đạt được kiểm soát GM lâu
dài ở BN thất bại thứ phát với sulfonylurea.


Biểu đồ 3.6: So sánh tỷ lệ HbA1C trước và sau điều
trị
3.3.
Kết quả cân nặng và BMI
3.3.1.
Cân nặng trước và sau 12 tuần tiêm thêm insulin bán chậm lúc
21 giờ
Bảng 3.9: Phân bố tỷ lệ tăng cân nặng
|
Số cân nặng tăng |
Số BN |
Tỷ lệ % |
|
Không tăng cân |
18 |
60 |
|
Tăng £
1kg |
7 |
23,3 |
|
1 kg < Tăng cân < 3kg |
3 |
10 |
|
Tăng 3kg |
2 |
6,7 |
|
Tổng số |
30 |
100 |
Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau 12 tuần tiêm thêm 1 mũi insulin
BC lúc 21 giờ có 2 BN (chiếm 6,7%) tăng cân nhiều nhất (tăng 3kg).
Các BN không tăng cân trong quá tŕnh điều trị chếm đa số 18 BN
(chiếm 60%).
Bảng 3.10: So sánh cân nặng trước và sau 12 tuần tiêm thêm một
mũi insulin BC lúc 21 giờ
|
Thời gian |
Số BN |
Cân nặng trung b́nh (kg) |
p |
|
Trước
tiêm insulin BC |
30 |
55,48 ±
9,12 |
> 0,05 |
|
Sau 12
tuần tiêm insulin BC |
30 |
55,85 ±
8,53 |
So sánh cân nặng của BN trước và sau 12 tuần điều trị insulin BC khi
đi ngủ cho thấy cân nặng tăng không có ư nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.3.2.
So sánh BMI trước và sau 12 tuần tiêm thêm insulin bán chậm
lúc 21 giờ
Bảng 3.11: So sánh BMI trước và sau 12 tuần điều trị kết hợp
insulin bán chậm lúc 21 giờ
|
Thời gian |
Số BN |
BMI trung b́nh |
p |
|
Trước
tiêm insulin BC |
30 |
23,19 ±
3,34 |
> 0,05 |
|
Sau 12
tuần tiêm insulin BC |
30 |
23,36 ±
3,14 |
Kết quả nghiên cứu của chúng
tôi, cho thấy BMI của BN thay đổi không có ư nghĩa so với trước khi
điều trị kết hợp insulin BC lúc 21 giờ (p > 0,05).
3.4.
sự thay đổi nồng độ cholesterolTP, triglycerid
trước và sau 12 tuần tiêm thêm một mũi insulin bán chậm lúc 21 giờ
Bảng 3.12: So sánh nồng độ cholesterol TP (CT), triglyceride
(TG) trước và sau 12 tuần điều trị kết hợp insulin BC lúc 21 giờ
|
|
Thời gian
|
Số BN |
Trung
b́nh (mmol/l) |
p |
|
CT |
Trước
tiêm insulin BC |
30 |
5,27 ±
0,96 |
> 0,05 |
|
Sau 12
tuần tiêm insulin BC |
30 |
5,17 ±
0,92 |
|
TG |
Trước
tiêm insulin BC |
30 |
1,96 ±
0,69 |
> 0,05 |
|
Sau 12
tuần tiêm insulin BC |
30 |
1,99 ±
0,84 |
Kết quả so sánh ở bảng trên cho ta thấy sử dụng insulin BC buổi tối
chưa thấy ảnh hưởng đến CT và TG, sự thay đổi CT và TG trước và sau
điều trị không có ư nghĩa thống kê (với p > 0,05).
3.5.
Liều insulin bán chậm
3.5.1.
Liều insulin bán chậm trung b́nh/ngày một lần tiêm trước khi
ngủ (21giờ)
3.5.1.1.
Liều insulin trung b́nh tính đv/ngày
Trong nghiên cứu của chúng tôi BN được tiêm thêm 1 mũi insulin BC
lúc 21 giờ với liều khởi đầu 0,1đv/kg/ngày và không ăn sau khi tiêm.
Bệnh nhân được điều chỉnh liều insulin BC dựa vào GM lúc đói buổi
sáng theo phác đồ điều trị (phần 2.2.3.).
Kết quả tính liều insulin BC trung b́nh theo số đơn vị insulin BC /
ngày (hay số đơn vị insulin BC /1lần tiêm) thay đổi trong quá tŕnh
điều trị được tŕnh bày trong bảng sau:
Bảng 3.13: Liều insulin trung b́nh/ngày tiêm trước khi ngủ
(lúc 21giờ)
|
Thời gian |
Số BN |
Liều insulinTB (đv/ngày) |
Độ lệch |
|
Sau 2 tuần tiêm insulin BC |
30 |
8,40 |
2,25 |
|
Sau 4 tuần tiêm insulin BC |
30 |
9,53 |
2,33 |
|
Sau 6 tuần tiêm insulin BC |
30 |
10,33 |
2,75 |
|
Sau 8 tuần tiêm insulin BC |
30 |
11,00 |
2,96 |
|
Sau 10 tuần tiêm insulin BC |
30 |
11,53 |
3,47 |
|
Sau 12 tuần tiêm insulin BC |
30 |
11,60 |
3,17 |
Trong nghiên cứu của chúng tôi, liều insulin tính trung b́nh mỗi
ngày (đv/ngày) sau 2 tuần tiêm thêm insulin BC lúc 21 giờ là 8,40
±
2,25đv/ngày, liều insulin tăng dần trong quá tŕnh điều trị đến
tuần thứ 12 là 11,60
±
3,17đv/ngày để đạt được kiểm soát GM.
3.5.1.2.
Liều insulin trung b́nh/ngày tiêm trước khi ngủ (lúc 21giờ)
tính theo cân nặng
Bảng 3.14: Liều insulin tính theo đv/kg cân nặng/ngày tiêm
trước khi ngủ (lúc 21giờ)
Thời
gian
|
Số BN |
Liều insulin TB (đv/kg/ngày) |
Độ lệch |
|
Sau 2 tuần tiêm insulin BC |
30 |
0,154 |
0,045 |
|
Sau 4 tuần tiêm insulin BC |
30 |
0,175 |
0,048 |
|
Sau 6 tuần tiêm insulin BC |
30 |
0,189 |
0,057 |
|
Sau 8 tuần tiêm insulin BC |
30 |
0,203 |
0,059 |
|
Sau 10 tuần tiêm insulin BC |
30 |
0,214 |
0,072 |
|
Sau 12 tuần tiêm insulin BC |
30 |
0,214 |
0,066 |
Trong kết quả của chúng tôi, liều insulin BC trung b́nh tính theo
cân nặng/ngày cần thiết ở BN nghiên cứu sau 2 tuần tiêm thêm insulin
BC lúc 21 gời là 0,154
±
0,045đv/kg/ngày, sau 12 tuần là 0,214
±
0,066đv/kg/ngày để đạt được kiểm soát GM.
3.5.2.
So sánh liều insulin trung b́nh ở 2 nhóm, nhóm BN có BMI < 23
và nhóm BN có BMI
³ 23
Bảng 3.15: So sánh liều insulin trung b́nh (đv/kg/ngày ) ở 2
nhóm, nhóm BN có BMI <23 và BN nhóm BN có BMI
³ 23
|
Nhóm BN |
Số BN |
Liều insulin TB
(đv/kg/ngày) |
p |
|
BMI < 23 |
16 |
0,215 ±
0,072 |
> 0,05 |
|
BMI ³
23 |
14 |
0,213 ±
0,063 |
So sánh liều insulin BC trung b́nh/ngày ở BN nghiên cứu giữa nhóm BN
béo (BMI ³ 23) với nhóm BN
không béo (BMI < 23) ta thấy sự khác biệt không có ư nghĩa về liều
insulin BC trung b́nh/ngày tính theo cân nặng ở 2 nhóm (p> 0.05).
3.5.3.
So sánh liều insulin trung b́nh của 2 nhóm, nhóm bệnh nhân có
thời gian mắc bệnh ĐTĐ < 5 năm và nhóm bệnh nhân có thời gian mắc
bệnh ĐTĐ ³
5 năm
Bảng 3.16: So sánh liều insulin trung b́nh/ngày của nhóm BN có
thời gian mắc bệnh ĐTĐ < 5 năm và nhóm BN có thời gian mắc bệnh ĐTĐ
³ 5năm
|
Nhóm BN |
Số BN |
Liều insulin TB
(đv/kg/ngày) |
p |
|
Thời gian ĐTĐ < 5 năm |
13 |
0,217 ±
0,076 |
> 0,05 |
|
Thời gian ĐTĐ
³
5 năm |
17 |
0,208 ±
0,058 |
So sánh liều insulin BC trung b́nh/ngày của nhóm BN có thời gian mắc
bệnh ĐTĐ < 5 năm và nhóm BN có thời gian mắc bệnh ĐTĐ
³ 5năm,
ta thấy sự khác biệt không có ư nghĩa về liều insulin BC trung
b́nh/ngày tính theo cân nặng ở 2 nhóm.
3.6.
Biến chứng hạ đường huyết
Trong 30 BN nghiên cứu của chúng tôi trong quá tŕnh theo dơi điều
trị không thấy BN nào bị hạ đường huyết.
Chương 4
Bàn luận
4.1.
Thay đổi GM lúc đói sau tiêm thêm insulin bán chậm
lúc 21 giờ
Trong kết quả nghiên cứu ở bảng 3.4
cho thấy, GM lúc đói buổi sáng giảm dần từ 12,67
± 2,14mmol/l trước điều trị
xuống 8,42 ± 1,92mmol/l sau
2 tuần điều trị kết hợp thêm một mũi tiêm insulin bán chậm lúc 21
giờ, và xuống 8,02 ±
2,69mmol/l sau 12 tuần điều trị kết hợp insulin bán chậm lúc 21 giờ.
Như vậy, tiêm thêm một mũi insulin bán chậm lúc 21 giờ có tác dụng
làm giảm rơ rệt GM lúc đói buổi sáng ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại
thứ phát với sulfonylurea.
Bảng 4.1: So sánh sự thay đổi GM lúc đói trong nghiên cứu của
chúng tôi với nghiên cứu của Trischitta và cộng sự (1989)
|
Thời gian |
GM lúc đói (mmo/l) |
|
Chúng tôi (30 BN)
(trung b́nh
±
SD) |
Trischitta (18 BN)
(trung b́nh
±
SE) |
|
Trước
dùng insulin BC |
12,67 ±
2,14 |
13,4 ±
0,7 |
|
Sau 2
tuần dùng insulin BC |
8,42 ±
1,92 |
8,6 ±
0,6 |
|
Sau 4
tuần dùng insulin BC |
8,31 ±
2,03 |
7,9 ±
0,7 |
|
Sau 6
tuần dùng insulin BC |
8,33 ±
1,86 |
7,1 ±
0,5 |
|
Sau 8
tuần dùng insulin BC |
8,21 ±
2,23 |
6,9 ±
0,4 |
|
Sau 10
tuần dùng insulin BC |
8,22 ±
1,25 |
6,8 ±
0,6 |
|
Sau 12
tuần dùng insulin BC |
8,02 ±
2,69 |
6,5 ±
0,7 |
Khi so sánh với kết quả nghiên
cứu của Trischitta và cộng sự chúng tôi thấy, GM lúc đói trong
nghiên cứu của chúng tôi giảm dần sau tiêm thêm một mũi insulin bán
chậm lúc 21 giờ tương tự như kết quả của Trischitta và cộng sự
(1989) [52]. Sau 2 tuần đầu tiêm thêm
một mũi insulin bán chậm lúc 21 giờ, kết quả GM lúc đói giảm tương
đương như kết quả nghiên cứu của Trischitta và cộng sự. Tuy vậy
trong những tuần sau, mức độ giảm GM lúc đói trong nghiên cứu của
chúng tôi ít hơn so với nghiên cứu của Trischitta và cộng sự. Nguyên
nhân của sự khác biệt này có thể do trong 2 tuần đầu tất cả bệnh
nhân của chúng tôi đều nằm điều trị nội trú và được theo dơi GM lúc
đói hàng ngày để điều chỉnh liều insulin phù hợp. Sau đó bệnh nhân
được ra viện theo dơi và điều trị ngoại trú, khám lại 2 tuần/1 lần
nên việc theo dơi GM để điều chỉnh liều insulin bán chậm không được
kịp thời.
Khi so sánh GM lúc đói buổi sáng
trước khi tiêm thêm insulin bán chậm lúc 21 giờ với GM lúc đói buổi
sáng sau 2 tuần và sau 12 tuần tiêm thêm một mũi insulin bán chậm
lúc 21 giờ (bảng 3.6 và 3.7), chúng tôi nhận thấy GM lúc đói
buổi sáng giảm rơ rệt từ 12,67
± 2,14mmol/l trước khi
tiêm thêm một mũi insulin bán chậm lúc 21 giờ xuống c̣n 8,42
± 1,92mmol/l sau 2 tuần và
giảm xuống 8,02
± 2,69mmol/l sau 12 tuần
tiêm thêm một mũi insulin bán chậm lúc 21 giờ. Sự khác biệt này có
ư nghĩa thống kê với p < 0,001. Như vậy tiêm thêm một mũi insulin
bán chậm lúc 21 giờ ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với
sulfonylurea có tác dụng làm giảm rơ rệt GM lúc đói buổi sáng.
Để thấy được rơ ràng hơn tác dụng làm giảm GM lúc đói của mũi tiêm
insulin bán chậm lúc 21 giờ (khi đi ngủ), chúng tôi tiến hành so
sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi với kết quả nghiên cứu của các
tác giả khác trên thế giới về GM lúc đói trước và sau 3 tháng tiêm
thêm một mũi insulin bán chậm khi đi ngủ (bedtime insulin) ở bệnh
nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea.
Bảng 4.2: So sánh GM lúc đói trước và sau 3 tháng tiêm thêm
insulin BC lúc 21 giờ với các tác giả khác
|
Tác giả |
Số bệnh nhân |
Trung b́nh GM lúc đói (mmol/l) |
p |
|
Trước tiêm thêm insulin BC |
Sau tiêm thêm
insulin BC |
|
Chúng tôi |
30 |
12,67 ±
2,14 |
8,02 ±
2,69 |
< 0,001 |
|
Chow C.C. (1995) |
27 |
13,5 ±
2,7 |
8,9 ±
3,0 |
< 0,001 |
|
Soneru I.L. (1993) |
15 |
12,68 ±
0,76 |
5,51 ±
0,48 |
< 0,001 |
Kết quả ở bảng trên cho thấy, GM lúc đói buổi sáng giảm có ư nghĩa
trong tất cả các nghiên cứu. Điều này chứng tỏ tiêm insulin bán chậm
khi đi ngủ (bedtime insulin) có tác dụng làm giảm rơ rệt GM lúc đói
buổi sáng. Nhận định này cũng tương tự ở một số nghiên cứu khác như
Trischitta V. và cộng sự (1989) [43], Shank M.L. và cộng sự (1995) [
REF _Ref30318214 \r \h 48], Wright A.
và cộng sự (2002) [ REF _Ref30317453 \r \h 57],
Yki-Jarvinen H. và cộng sự (1999) [ REF _Ref30318182 \r \h 60]...
Trong nghiên cứu của Chow C.C. và cộng sự, khi nghiên cứu trên 53
bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea trong đó 27
bệnh nhân vẫn tiếp tục điều trị sulfonylurea kết hợp với tiêm
insulin bán chậm khi đi ngủ. Sau 3 tháng theo dơi điều trị GM lúc
đói giảm từ 13,5
±
2,7mmol/l xuống c̣n 8,9
±
3,0mmol/l [ REF _Ref30321051 \r \h 16].
Mức độ giảm GM lúc đói ở nhóm điều trị kết hợp insulin bán chậm khi
đi ngủ trong nghiên cứu của Chow C.C. và cộng sự tương tự kết quả
nghiên cứu của chúng tôi.
Soneru I.L. và cộng sự nghiên cứu trên 29 bệnh nhân thất bại thứ
phát với sulfonylurea, trong đó có 15 bệnh nhân được điều trị kết
hợp 20mg glyburide/ngày kết hợp với tiêm insulin lente sau 12 tuần
GM lúc đói đă giảm từ 12,68
±
0,76mmo/l xuống 5,51
±
0,48mmol/l (với p < 0,001) [ REF _Ref30320110 \r \h 50].
GM lúc đói buổi sáng trong nghiên cứu của chúng tôi giảm ít hơn so
với kết quả nghiên cứu của Soneru I.L. và cộng sự. Nguyên nhân của
sự khác biệt này có thể do sự khác nhau về số lượng bệnh nhân nghiên
cứu, trong nghiên cứu của Soneru I.L. và cộng sự chỉ đánh giá trên
15 bệnh nhân ít hơn nhiều số bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng
tôi.
ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, GM lúc đói buổi sáng có liên quan chặt chẽ
với quá tŕnh sản xuất đường từ gan [ REF _Ref30315809 \r \h 47].
Về ban đêm, gan tăng sản xuất đường do nồng độ insulin trong máu ở
mức thấp. Khi sử dụng kết hợp insulin bán chậm lúc 21 giờ tối ở bệnh
nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea tạo một nồng độ
insulin nền suốt đêm sẽ có tác dụng giảm tổng hợp đường ở gan về
đêm, do đó làm giảm GM lúc đói buổi sáng [ REF _Ref30315699 \r \h 55].
Mặt khác, tiêm dưới da insulin bán chậm lúc 21 giờ sẽ đạt đỉnh tác
dụng 3 - 7 giờ sáng trùng hợp với thời gian các hormon đối lập với
insulin trong máu tăng (như GH, cortisol, glucagon, epinephrine...)
[ REF _Ref30315588 \r \h 39]. V́ vậy
làm giảm được hiện tượng kháng insulin sáng sớm, do đó cũng có tác
dụng cải thiện t́nh trạng tăng GM lúc đói buổi sáng.
Như vậy, tiêm thêm một mũi
insulin bán chậm lúc 21 giờ ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát
với sulfonylurea có tác dụng làm giảm đáng kể GM lúc đói buổi sáng,
bởi v́ insulin bán chậm tiêm khi đi ngủ có tác dụng giảm sản xuất
đường ở gan về đêm và cải thiện được t́nh trạng kháng insulin buổi
sáng.
4.2.
Hiệu quả kiểm soát glucose máu lâu dài của mũi
tiêm insulin bán chậm lúc 21 giờ
Để đánh giá hiệu quả kiểm soát GM lâu dài tỷ lệ HbA1C là
một chỉ tiêu quan trọng trên lâm sàng. Nó đă trở thành "tiêu chuẩn
vàng" để đánh giá hiệu quả kiểm soát GM lâu dài ở bệnh nhân ĐTĐ, bởi
v́ tỷ lệ HbA1C phản ánh nồng độ GM trung b́nh trong 2 - 3
tháng trước đó. Trên bệnh nhân ĐTĐ có GM cao, nếu điều trị tích cực
giảm được GM th́ HbA1C sẽ thay đổi sớm nhất sau 4 tuần
điều trị. Chính v́ vậy thường 2 - 3 tháng xét nghiệm HbA1C
một lần để đánh giá hiệu quả điều trị.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành đo tỷ lệ HbA1C
trước và sau 12 tuần tiêm thêm insulin bán chậm lúc 21 giờ. Kết quả
nghiên cứu ở biểu đồ 3.5 cho thấy, sau 12 tuần tiêm thêm một
mũi insulin bán chậm lúc 21 giờ có 15 bệnh nhân (chiếm 50%) đạt được
tỷ lệ HbA1C < 7,5%. Như vậy tiêm thêm insulin bán chậm
lúc 21 giờ có tác dụng cải thiện kiểm soát GM ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2
thất bại thứ phát với sulfonylurea.
Kết quả so sánh bảng 3.8 cho thấy, tỷ lệ HbA1C
giảm rơ rệt sau 12 tuần tiêm thêm một mũi insulin bán chậm lúc 21
giờ, từ 10,21 ±
1,68% xuống 7,86
± 1,28%
với p < 0,001. Điều này chứng tỏ GM trung b́nh giảm trong 12 tuần
tiêm thêm một mũi insulin bán chậm lúc 21 giờ so với khi chưa tiêm
insulin bán chậm.
Bảng 4.3: So sánh HbA1C trước và sau tiêm thêm
insulin BC lúc 21 giờ với các tác giả khác
|
Tác giả |
Số BN |
Tỷ lệ HbA1C (%) |
p |
|
Trước tiêm thêm insulin BC |
Sau tiêm thêm insulin BC |
|
Chúng tôi |
30 |
10,21 ±
1,68 |
7,86 ±
1,28 |
< 0,001 |
|
Wolffenbuttel B.H (1996) |
32 |
10,5 ±
1,2 |
8,1 ±
1,1 |
< 0,001 |
|
Miller J.L. (1993) |
16 |
9,0 ±
1,9 |
6,2 ±
1,16 |
< 0,001 |
Khi so sánh tỷ lệ HbA1C trước và sau tiêm thêm insulin
bán chậm khi đi ngủ, ta thấy tỷ lệ HbA1C giảm rơ rệt sau
tiêm thêm insulin bán chậm khi đi ngủ trong nghiên cứu của chúng tôi
cũng như các nghiên cứu khác. Như vậy, ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất
bại thứ phát với sulfonylurea tiêm thêm một mũi insulin bán chậm lúc
21 giờ (khi đi ngủ) có tác dụng làm giảm có ư nghĩa tỷ lệ HbA1C.
Nhận định này cũng phù hợp với các tác giả khác như Trischitta V. và
cộng sự (1989) [ REF _Ref30319997 \r \h 52],
Landstedt-Hallin L. và cộng sự (1995) [ REF _Ref30320206 \r \h 33],
Yki-Jarvinen H. và cộng sự (1999) [ REF _Ref30318182 \r \h 60]
...
Mức độ giảm của tỷ lệ HbA1C trong nghiên cứu của chúng
tôi tương tự như kết quả nghiên cứu của Wolffenbuttel B.H và cộng sự
(1996) [ REF _Ref30320271 \r \h 56],
nhưng giảm ít hơn so với trong nghiên cứu của Miller J.L. và cộng sự
(1993) [ REF _Ref30320283 \r \h 37].
Nguyên nhân của sự khác nhau này có thể do khác nhau về số lượng
bệnh nhân nghiên cứu, Miller J.L. (1993) nghiên cứu trên 16 bệnh
nhân ít hơn nhiều so với chúng tôi.
Nhiều nghiên cứu đă chứng minh rơ ràng ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 GM,
lúc đói chi phối nhiều đến GM trong ngày làm thay đổi GM sau ăn [
REF _Ref30315976 \r \h 45]. Thời gian
tác dụng của insulin bán chậm kéo dài từ 12 - 18 tiếng, do đó có tác
dụng làm giảm GM sau ăn sáng ngoài tác dụng làm giảm GM lúc đói.
Ngoài ra, khi GM lúc đói giảm sẽ giúp cho sulfonylurea có tác dụng
kích thích tế bào
b tiết
insulin đạt hiệu quả hơn. Như vậy, sử dụng insulin bán chậm khi đi
ngủ không chỉ có tác dụng làm giảm GM lúc đói mà c̣n góp phần cải
thiện GM trong ngày, do đó giúp cho kiểm soát GM tốt hơn trong cả
ngày. Điều này được thể hiện qua tỷ lệ HbA1C giảm rơ rệt
sau 12 tuần tiêm thêm một mũi insulin bán chậm lúc 21 giờ.
Điều trị kết hợp một mũi insulin bán chậm lúc 21 giờ tối với
sulfonylurea ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với
sulfonylurea không những chỉ làm giảm rơ rệt GM lúc đói buổi sáng mà
c̣n làm giảm có ư nghĩa HbA1C, chứng tỏ tiêm insulin bán
chậm lúc 21 giờ có tác dụng kiểm soát GM chặt chẽ.
Do vậy, ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea,
tiêm thêm một mũi tiêm insulin bán chậm lúc 21 giờ đạt được hiệu quả
kiểm soát GM tốt và lâu dài.
4.3.
ảnh hưởng của mũi tiêm insulin bán chậm lúc 21 giờ
đến cân nặng và BMI:
Đa số bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có thể trạng béo, thường kèm theo rối loạn
chuyển hoá lipid, tăng huyết áp và các bệnh lư về mạch máu. Nếu điều
trị bệnh nhân ĐTĐ typ 2 làm cho cân nặng tăng lên th́ sẽ làm tăng
t́nh trạng kháng insulin ngoại vi và tăng nguy cơ các bệnh lư về
mạch máu. V́ vậy mục tiêu của điều trị ĐTĐ typ 2 là kiểm soát GM tốt
và không làm tăng cân nặng của bệnh nhân.
Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.9 cho thấy, trong 30 bệnh nhân có
18 bệnh nhân (chiếm 60%) không tăng cân trong 12 tuần tiêm thêm một
mũi insulin bán chậm lúc 21 giờ và chỉ có 2 bệnh nhân (chiếm 6,7%)
tăng nhiều cân nhất trong quá tŕnh điều trị là 3kg/12 tuần. Nguyên
nhân tăng cân nhiều ở hai bệnh nhân này có thể do bệnh nhân có thối
quen thường ăn thêm bữa ăn phụ trong ngày ngoài ba bữa ăn chính. Vậy
sự tăng cân này có ư nghĩa hay không ?
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành so sánh cân nặng (bảng
3.10) trước và sau 12 tuần tiêm insulin bán chậm lúc 21 giờ cho
thấy tăng cân không có ư nghĩa thống kê với p > 0,05. Rơ ràng rằng
tiêm thêm insulin bán chậm khi đi ngủ ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại
thứ phát với sulfonylurea không làm thay đổi đáng kể cân nặng của
người bệnh. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của
Trischitta V. và cộng sự (1989) [ REF _Ref30319997 \r \h 52].
Theo Trischitta V. và cộng sự, nghiên cứu trên 18 bệnh nhân ĐTĐ typ
2 thất bại thứ phát với sulfonylurea được điều trị kết hợp với liều
thấp insulin NPH khi đi ngủ trong 3 tháng đă kết luận không thấy có
tăng cân nặng ở các bệnh nhân nghiên cứu.
Khi so sánh BMI (bảng 3.11) trước và sau 12 tuần tiêm insulin bán
chậm lúc 21 giờ cho thấy sự thay đổi BMI không có ư nghĩa thống kê
với p > 0,05. Như vậy, tiêm thêm insulin bán chậm khi đi ngủ ở bệnh
nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea không làm thay đổi
BMI. Nhận xét này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu Maiz A. và
cộng sự (1993) [ REF _Ref30320448 \r \h 34]
và Clauson P. và cộng sự (1996) [ REF _Ref30320461 \r \h 17].
Maiz A. và cộng sự (1993) nghiên cứu trên 18 bệnh nhân ĐTĐ không phụ
thuộc insulin thất bại thứ phát với glybenclamide được điều trị kết
hợp với insulin NPH khi đi ngủ và theo dơi trong 6 tháng đă kết luận
rằng BMI tăng không có ư nghĩa trong quá tŕnh điều trị [ REF
_Ref30320448 \r \h 34].
Clauson P. và cộng sự (1996) nghiên cứu trên 39 bệnh nhân ĐTĐ không
phụ thuộc insulin thất bại thứ phát với sulfonylurea chia làm 2
nhóm, trong đó có 20 bệnh nhân được điều trị kết hợp với insulin NPH
khi đi ngủ c̣n 19 bệnh nhân điều trị tích cực bằng insulin. Sau 1
năm theo dơi điều trị đă kết luận rằng BMI không thay đổi trong nhóm
điều trị kết hợp với insulin NPH nhưng BMI tăng có ư nghĩa trong
nhóm điều trị insulin [ REF _Ref30320461 \r \h 17].
Vậy điều trị kết hợp insulin bán chậm khi đi ngủ ở những bệnh nhân
ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea đạt hiệu quả kiểm soát
GM tốt nhưng ít gây tăng cân và BMI.
4.4.
ảnh hưởng của mũi tiêm insulin bán chậm lúc 21 giờ
đến nồng độ cholesterol tp và triglycerid
Vậy sử dụng thêm một mũi tiêm insulin bán chậm lúc 21 giờ (khi đi
ngủ) có gây rối loạn chuyển hoá lipid ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại
thứ phát với sulfonylurea hay không ?
Chúng tôi tiến hành so sánh nồng độ CT và TG trước và sau 12 tuần
tiêm thêm một mũi insulin bán chậm lúc 21 giờ. Qua kết quả so sánh (bảng
3.12) cho thấy sự thay đổi nồng độ CT và TG trước và sau khi
tiêm thêm insulin bán chậm không có ư nghĩa thống kê (với p > 0,05).
Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
như Chow C.C. và cộng sự (1995) [ REF _Ref30320524 \r \h 18],
Sinagra D. và cộng sự (1998) [ REF _Ref30320536 \r \h 49],
Maiz A. và cộng sự (1993) [ REF _Ref30320448 \r \h 34].
Chow C.C. và cộng sự (1995)
nghiên cứu trên 53 bệnh nhân ĐTĐ không phụ thuộc insulin thất bại
thứ phát với sulfonylurea, trong đó có 27 bệnh nhân nhận điều trị
phối hợp với insulin bán chậm khi đi ngủ (nhóm điều trị kết hợp).
Sau 3 và 6 tháng theo dơi điều trị không thấy sự thay đổi của nồng
độ triglycerid, cholesterol toàn phần và HDL - cholesterol trong
nhóm bệnh nhân điều trị kết hợp insulin bán chậm khi đi ngủ [18].
Trong nghiên cứu của Sinagra D. và cộng sự (1998) (1998) đă kết luận
nồng độ CT và TG thay đổi không có ư nghĩa sau 6 tháng điều trị kết
hợp insulin bán chậm khi đi ngủ [49].
Maiz A. và cộng sự (1993) nghiên cứu trên 18 bệnh nhân ĐTĐ không phụ
thuộc insulin thất bại thứ phát với sulfonylurea được điều trị kết
hợp glybenclamide và insulin NPH sau 6 tháng điều trị cũng đă cho
thấy không có sự thay đổi nồng độ lipid máu [ REF _Ref30320448 \r \h
34].
Bảng 4.3: So sánh nồng độ CT và TG trong nghiên cứu của chúng
tôi so với Trischitta V. và cộng sự
|
Tác giả |
Thành phần lipid |
Trung b́nh (mmol/l) |
p |
|
Trước tiêm insulin BC |
Sau tiêm insulin BC |
|
Chúng tôi
(30 BN) |
CT |
5,27 ±
0,96 |
5,17 ±
0,92 |
> 0,05 |
|
TG |
1,96 ±
0,69 |
1,99 ±
0,84 |
|
Trischitta V.
(18 BN) |
CT |
5,1 ±
0,3 |
4,7 ±
0,4 |
> 0,1 |
|
TG |
1,3 ±
0,1 |
1,3 ±
0,2 |
Khi so sánh với kết quả nghiên cứu của Trischitta V. và cộng sự
(1989), cho thấy kết quả của chúng tôi tương tự như Trischitta V. và
cộng sự. Sự thay đổi CT và TG trước và sau khi tiêm thêm insulin bán
chậm khi đi ngủ không có ư nghĩa.
Điều đó chứng tỏ điều trị kết hợp insulin bán chậm khi đi ngủ ở
bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea chưa thấy ảnh
hưởng đến nồng độ CT và TG.
4.5.
Liều insulin trung b́nh / ngày
4.5.1.
Sự biến đổi liều insulin BC trong quá tŕnh điều trị
Trong kết quả nghiên cứu (bảng 3.13 và 3.14) cho thấy, để đạt
được kiểm soát GM mong muốn liều insulin bán chậm trung b́nh/ngày
tăng dần từ tuần 2 đến tuần 12 tiêm thêm insulin BC. Liều insulin BC
trung b́nh/ngày tăng từ 8,40
±
2,25đv/ngày (0,154
±
0,045đv/kg/ngày) ở tuần thứ 2 lên 11,60
±
3,17đv/ngày (0,214
±
0,066đv/kg/ngày) ở tuần thứ 12. Trong khi đó trung b́nh GM lúc đói
thay đổi không đáng kể giữa tuần thứ 2 (8,42
±
1,92mmol/l) và tuần thứ 12 (8,02
±
2,69mmol/l) sau tiêm thêm insulin bán chậm.
Nguyên nhân có sự thay đổi này bởi v́ sau 2 tuần tiêm thêm insulin
bán chậm lúc 21 giờ chỉ có 36% bệnh nhân đạt được GM lúc đói buổi
sáng < 7,8mmol/l, c̣n lại 63,3% bệnh nhân có GM lúc đói buổi sáng
³
7,8mmol/l (bảng 3.5). V́ vậy 63,3% bệnh nhân phải tiếp tục
tăng liều insulin bán chậm lên để đạt được kiểm soát GM.
4.5.2.
Liều insulin bán chậm trung b́nh/ngày tính theo đv/ngày
Tính liều insulin bán chậm trung b́nh/ ngày (bảng 3.13) cho
thấy, liều insulin bán chậm trung b́nh cần thiết trong nghiên cứu
của chúng tôi để đạt được kiểm soát GM là 11,60
± 3,17đv/ngày. Liều insulin
bán chậm này thấp hơn so với trong nghiên cứu của Chow C.C. và cộng
sự (1995) và Groop L.C. và cộng sự (1992).
Trong nghiên cứu Chow C.C. và cộng sự để đạt kiểm soát GM ở bệnh
nhân nghiên cứu cần liều insulin bán chậm trung b́nh là 14,4đv/ngày
[ REF _Ref30320524 \r \h 18].
Trong nghiên cứu của Groop L.C. và cộng sự để đạt kiểm soát GM ở
bệnh nhân nghiên cứu cần liều insulin bán chậm trung b́nh là 22
± 1đv/ngày [ REF
_Ref30320705 \r \h 26].
Nguyên nhân của sự khác nhau này
có thể do bệnh nhân của chúng tôi có cân nặng trung b́nh 55,48
±
9,12 kg và BMI trung b́nh 23,19
±
3,34 kg/m2 thấp hơn so với trong nghiên cứu của Chow C.C.
và Groop L.C.. Bệnh nhân của Chow C.C. có cân nặng trung b́nh 60,4
±
13,3 kg và BMI trung b́nh 24,2
±
4,3 kg/m2.
Do vậy tính liều insulin bán chậm trung b́nh/ngày theo số đơn vị
insulin sẽ có sự dao động lớn giữa các bệnh nhân.
4.5.3.
Liều insulin BC trung b́nh tính theo cân nặng
Trong nghiên cứu của chúng tôi, liều insulin bán chậm trung b́nh để
đạt được kiểm soát GM là 0,214
±
0,066đv/kg/ngày. Kết quả này tương tự trong nghiên cứu của
Trischitta V. và cộng sự (1989) với liều insulin trung b́nh là 0,2
±
0,01đv/kg/ngày [ REF _Ref30319997 \r \h 52];
trong nghiên cứu của Sinagra D. (1998) là 0,21
±
0,13đv/kg/ngày [ REF _Ref30320536 \r \h 49];
trong nghiên cứu của Chazan A.C., Gomes M.B. (2001) là
0,19đv/kg/ngày [ REF _Ref30320782 \r \h 15].
Trong khi đó liều insulin bán chậm này hơn so với trong nghiên cứu
của Krempf M. 0,28/kg/ngày [ REF _Ref30344870 \r \h 32],
có thể v́ số lượng bệnh nhân nghiên cứu của Krempf M. (16 bệnh nhân)
ít hơn chúng tôi.
Qua kết quả nghiên cứu của chúng tôi và các tác giả khác cho thấy
liều insulin bán chậm trung b́nh/ngày chỉ cần một liều thấp để đạt
được kiểm soát GM tốt ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với
sulfonylurea.
4.5.3.
Liều insulin BC trung b́nh giữa nhóm BN béo (BMI
³ 23) và
nhóm BN không béo (BMI < 23) có khác nhau hay không
Liều insulin bán chậm trung b́nh tiêm một lần duy nhất trước khi đi
ngủ có cao hơn ở những bệnh nhân có thể trạng béo hay không ?
Để xác định xem có sự khác biệt về liều insulin bán chậm ở 2 nhóm:
nhóm bệnh nhân béo và nhóm bệnh nhân không béo, chúng tôi tiến hành
so sánh liều insulin bán chậm trung b́nh/ngày ở 2 nhóm (bảng 3.15).
Khi so sánh liều insulin bán chậm trung b́nh/ngày tính theo cân nặng
(bảng 3.15) cho thấy liều insulin trung b́nh ở nhóm béo là
0,212 ± 0,063đv/kg/ngày
thấp hơn so với nhóm không béo 0,215
± 0,072đv/kg/ngày. Sự khác
biệt này không có ư nghĩa thống kê với p > 0,05.
Như vậy không có sự khác biệt về liều insulin bán chậm trung
b́nh/ngày ở 2 nhóm, nhóm bệnh nhân béo và nhóm bệnh nhân không béo
trong nghiên cứu của chúng tôi. V́ vậy liều insulin bán chậm trung
b́nh/ngày cần được tính theo cân nặng của bệnh nhân.
4.5.4.
Thời gian mắc bệnh ĐTĐ có ảnh hưởng đến việc tính liều
insulin bán chậm hay không
Trong nghiên cứu của chúng tôi, khi so sánh liều insulin bán chậm
trung b́nh/ngày ở 2 nhóm bệnh nhân, nhóm bệnh nhân có thời gian mắc
bệnh ĐTĐ > 5năm và nhóm bệnh nhân có thời gian mắc bệnh ĐTĐ < 5 năm
(bảng 3.16). Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về liều
insulin bán chậm ở 2 nhóm (p > 0,05). Như vậy thời gian mắc bệnh ĐTĐ
dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc tính liều insulin bán chậm
trung b́nh/ngày ở bệnh nhân nghiên cứu.
4.6.
Biến chứng hạ đường huyết:
Trong 30 bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi không có bệnh nhân nào
bị hạ đường huyết trong 3 tháng theo dơi điều trị. Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu của Soneru I.L. và
cộng sự (1993) [ REF _Ref30320110 \r \h 50],
Trischitta V. và cộng sự (1989) [ REF _Ref30319997 \r \h 52],
cho rằng sử dụng insulin bán chậm lúc 21 giờ khi đi ngủ ít gây hạ
đường huyết.
Khi tiêm insulin bán chậm lúc 21 giờ tối có đỉnh tác dụng trùng với
thời gian buổi sáng khi bệnh nhân ngủ dậy nên hạn chế được hạ đường
huyết ban đêm khi bệnh nhân đang ngủ [ REF _Ref30316033 \r \h 40].
Điều này rất quan trọng v́ hạ đường huyết ban đêm thường khó phát
hiện và nguy hiểm cho bệnh nhân.
Vậy tiêm insulin bán chậm khi đi ngủ kết hợp với sulfonylurea ở bệnh
nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea không những đạt
được kiểm soát đường huyết tốt mà c̣n an toàn cho bệnh nhân.
Kết luận
Qua nghiên cứu trên 30 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với
sulfonylurea được điều trị kết hợp thêm một mũi tiêm insulin bán
chậm lúc 21 giờ trong 3 tháng theo dơi tại khoa Nội tiết và đái tháo
đường Bệnh viện Bạch mai từ tháng 10/2001 - 11/2002, chúng tôi rút
ra các kết luận sau:
1.
Hiệu quả kiểm soát GM của mũi tiêm insulin bán chậm lúc 21
giờ ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea:
-
Có tác dụng làm giảm rơ rệt glucose máu lúc đói từ
12,67 ±
2,14mmol/l xuống c̣n 8,02
±
2,69mmol/l sau 12 tuần điều trị (với p <0,001).
-
Có tác dụng làm giảm tỷ lệ HbA1C có ư nghĩa
từ 10,21 ±
1,68% xuống 7,86
± 1,28%
sau 12 tuần điều trị (với p < 0,001)
-
Làm thay đổi không đáng kể cân nặng và BMI của người
bệnh.
-
Chưa thấy ảnh hưởng đến nồng độ cholesterol và
triglycerid.
-
Chưa gặp trường hợp nào hạ đường huyết trong quá tŕnh
theo dơi điều trị.
2.
Liều insulin bán chậm tiêm một lần lúc 21 giờ ở bệnh nhân ĐTĐ
typ 2 thất bại thứ phát với sulfonylurea:
-
Liều khởi đầu insulin bán chậm: 0,1đv/kg/ngày là phù
hợp.
-
Liều insulin bán chậm trung b́nh/ngày ở bệnh nhân
nghiên cứu là: 0,214
± 0,066
đv/kg cân nặng/ngày.
Tài liệu tham
khảo
Tiếng việt
1.
Tạ Văn B́nh (2001), Bệnh béo ph́, nguy cơ và thái độ của
chúng ta, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học. Hội Nội tiết - đái
tháo đường Việt nam, pp. 323-330.
2.
Thái Hồng Quang (2001), Bệnh đái tháo đường, Bệnh nội tiết,
Nhà xuất bản y học, tr. 257 - 361.
3.
Thái Hồng Quang (2000), Bệnh thận do ĐTĐ vai tṛ của
Microalbumin trong chẩn đoán và theo dơi, Kỷ yếu toàn văn công
tŕnh nghiên cứu khoa học nội tiết và chuyển hoá, Nhà xuất bản Y
học, tr. 490.
4.
Đỗ Trung Quân (2001), Bệnh đái tháo đường. Nhà xuất
bản Y học.
5.
Mai Thế Trạch, Nguyễn Thy Khuê (1997), Bệnh đái tháo đường.
Nội tiết học đại cương, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh,
tr. 467 - 546.
6.
Trần Đức Thọ, Đỗ Trung Quân, Lê Thị Thu Hà (1998), Nhận xét
về kháng insulin, giá trị của HbA1C trong theo dơi điều
trị ĐTĐ, Công tŕnh nghiên cứu khoa học 1997 - 1998. Bệnh viện
Bạch mai, Nhà xuất bản y học, tập II, tr. 109-113.
7.
Nguyễn Trọng Thông (1998), Thuốc hạ glucose máu, Dược lư
học, Nhà xuất bản Y học, tr. 461 - 467.
Tiếng Anh
8.
Abraira C., Henderson W., Colwell J.A. et al. (1998),
"Response to intensive therapy steps and to glipizide dose in
combination with insulin type 2 diabetes", Diabetes Care, 21
(4), pp. 574-579.
9.
Ahmann A.J., Riddle M.C. (2002), Current oral agents for type
2 diabetes, Postgraduate Medicine, 111 (5), pp. 31-46.
10.
Aschner P., Kattah W. (1992), Effects of the combination of
insulin and gliclazide compared with insulin alone in type 2
diabetic patients with secondary failure to oral hypoglycemic
agents, Diabetes Research and Clinical Practice, 18, 23-30.
11.
Benjamin E.M., Bradley R. (2002), "Systematic Implememtation
of Customized Guidelines: The Staged Diabetes Management Approach",
Journal of Clinical Outcomes Management, Vol. 9, No. 2, pp.
81-86.
12.
Bergenstal R.M. (2000), "Optimization of insulin therapy in
patients with type 2 diabetes", Endocrine Practice, 6 (1),
pp. 93-97.
13.
Bergenstal R.M., Kendal D.M., Franz M.J., Rubenstein A.H.
(2001), Management of type 2 Diabetes: A systematic Approach to
meeting the standards of care, Endocrinology, fourth edition,
Vol. 1, pp. 821 - 835.
14.
Caro J.F. (1991), "Insulin resistance in obese and nonobese
man", Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism, 73,
pp. 691-702.
15.
Chazan A.C., Gomes M.B. (2001), “Gliclazide and bedtime
insulin are more efficient than insulin alone for type 2 diabetic
patients with sulfonylurea secondary failure”, Brazillian Journal
of Medical and Biological Research, 34, pp. 49-56.
16.
Chow C.C., Tsang L.W., Sorensen J.P., Cockram C.S. (1995),
“Comparison of insulin with or without continuation of oral
hypoglycemic agents in the treatment of secondary failure in NIDM
patients”, Diabetes Care, 18(3), pp. 307-314.
17.
Clauson P., Karlander S., Steen L., Efendic S. (1996),
“Daytime glibenclamide and bedtime NPH insulin compared to intensive
insulin treatment in secondary sulfonylurea failure: a 1-year
follow-up”, Diabetes Medicine, 13(5), 471-477.
18.
Cusi K., Cunningham G.R., Comstock J.P. (1995), "Safety and
efficacy of normalizing fasting glucose with bedtime NPH insulin
alone in NIDDM", Diabetes Care, 18, pp. 843-851.
19.
DeFronzo R.A., Bonadonna R.C., Ferrannini E. (1992),
"Pathogenesis of NIDDM: A balanced overview", Diabetologia,
35, pp. 389-397.
20.
DeFronzo R.A., Riddle M.C. (1998), "Combination therapy:
insulin - sulfonylurea and insulin - metformin", Curent therapy
of Diabetes mellitus, pp. 117-121.
21.
Del Prato S. (1991), Rationale for the association of
sulfonylurea and insulin, American Journals of Medicine, 90
(6A), pp. 77S - 82S.
22.
Edelman S.V., Henry
R.R. (1997), "Non - Insulin - Dependent Diabetes Mellitus",
Current therapy in Endocrinology and Metabolism, pp. 430-438.
23.
Feinglos M.N., Bethel M.A. (1999), Oral agent therapy in the
treatment of type 2 diabetes, Diabetes Care, 22 (Suppl. 3),
pp. C61 - C64.
24.
Genuth S. (1990), "Insulin use in NIDDM", Diabetes Care,
13, pp. 1240.
25.
Greenspan F.S., Gardner D.G. (2001), Diabetes Mellitus,
Basic & Clinical Endocrinology, sixth edition, pp. 633-698.
26.
Groop L.C., Widen E., Ekstrand A., Saloranta C.,
Franssila-Kallunki A., Schalin-Jantti C., Eriksson J.G. (1992),
“Morning or bedtime NPH insulin combined with sulfonylurea in
treatment of NIDDM”, Diabetes Care, 15(7), pp. 831-834.
27.
International Diabetes Center (1999), " Staged Diabetes
ManagementTM"
28.
International Diabetes Center (2001), " Staged Diabetes
ManagementTM", MatrexTM.
29.
Inzucchi S.E. (2002), Oral antihyperglycemic therapy for type
2 Diabetes, JAMA, 278(3), pp. 360-376.
30.
Julius U. (1995), "Derivatives of sulfonylurea", A
practical guide to the thearapy of type 2 diabetes, pp. 144-153.
31.
Koivisto V.A. (1993), "Insulin therapy in type 2 diabetes",
Diabetes Care, 16(suppl 3), pp. 29-35.
32.
Krempf M., Godeau T., Ranganathan S., Blanchard P., Ritz P.,
Charbonnel B. (1992), "Effects of a combination of bedtime
intermediate-acting insulin and glibenclamide in type 2
(non-insulin-dependent) diabetic patients with secondary failure to
respond to oral hypoglycemic agents”, European Journal of
Clinical Pharmacology, 42(3), pp. 281-286.
33.
Landstedt-Hallin L., Adamson U., Arner P., Bolinder J., Lins
P.E. (1995), “Comparision of bedtime NPH or preprandial regular
insulin combined with glibenclamide in secondary sulfonylurea
failure”, Diabetes Care, 18(8), pp. 1183-1186.
34.
Maiz A., Arteaga A., Klaassen J., Velasco N., Borkosky M.,
Jimenez M., Acosta A.M. (1993), “Non-insulin-dependent diabetics
with secondary failure: insulin therapy at bedtime combined with
glibenclamide”, Rev Med Chil, 121(10), pp. 1135-1141.
35.
Mayerson A.B., Inzucchi S.E. (2002), Type 2 Diabetes therapy:
A pathophysiologycally based approach, Postgraduate Medicine,
111 (3), pp. 83-92.
36.
Mazze R.S., Simonson G., Strock E., el al (2001), "Staged
diabetes management: a systematic evidence-based approach to the
prevention and treatment of diabetes and its co-morbidities.
Processding of Staged Diabetes Management; Worldwide Outcomes 2000",
Pratical Diabetes International, Suppl. 7, pp. S1-S16.
37.
Miller J.L., Salman K., Shulman L.H., Rose L.I. (1993),
“Bedtime insulin added daytime sulfonylureas improves glycemic
control in uncontrolled type 2 diabetes”, Clinical Pharmacology
and Therapeutics, 53(3), pp. 380-384.
38.
Mokdad A.H., Ford E.S., Bowman B.A., et al. (2000), Diabetes
trends in the U.S.: 1990 - 1998, Diabetes Care, 23, pp.
1278-1283.
39.
Mudaliar S., Edelman S.V. (2001), Insulin therapy in type 2
diabetes, Endocrinology and Metabolism Clinics, 30 (4), pp.
2310-2345.
40.
Nair K.S., Karki S.D. (1992), "Carbohydrate Metabolism",
Textbook of Pharmacology, pp. 741-771.
41.
Niskanen L., Lahti J., Uusitupa M.(1992), “Morning or
bed-time insulin with or without glibenclamide in elderly type 2
diabetic patients unresponsive to oral antidiabetic agents”,
Diabetes Research and Clinical Practice, 18(3), pp. 185-190.
42.
Powers A.C. (2001), "Diabetes Mellitus", Harrison’s
principles of internal medicine, Vol 2, pp. 2109-2137.
43.
Ravel R. (1995), "Test for Diabetes and hypoglycemia",
Clinical Laboratory medicine, sixth edition, pp. 453-474.
44.
Riddle M.C (2002), Timely addition of insulin to oral therapy
for type 2 diabetes, Diabetes Care, 25 (2), pp. 395-396.
45.
Riddle M.C. (1990), "Evening insulin strategy", Diabetes
Care, 13, pp. 676-681.
46.
Riddle M.C., Hart J.S., Bouma D.J., et al.(1995), "Efficacy
of bedtime NPH insulin with daytime sulfonylurea for sub-population
of type 2 diabetes subjects", International Journal of Artificial
Organs, 18, pp. 322-325.
47.
Rizza R., Mandarino L., Gerich J. (1981), "Dose-response
characteristics for effects of insulin on production and utilization
of glucose in man", American Journal of Physiology, pp.
240-630.
48.
Shank M.L., Del Prato S., De Fronzo RA.. (1995), "Bedtime
insulin/daytime glipizide: Effective therapy for sulfonylurea
failures in NIDDM", Diabetes, 44, 165-172.
49.
Sinagra D., Scarpitta A.M., Amato M. (1998), “Effects of
insulin-oral hypoglycemic agents combined therapy in outpatients
with type 2 diabetes”, Eur Rev Pharmacol Sci, 2(5-6), pp.
175-179.
50.
Soneru I.L., Agrawal L., Murphy J.C., Lawrence A.M., Abraira
C. (1993), “Comparision of morning or bedtime insulin with and
without gluburide in secondary sulfonylurea failure”, Diabetes
Care, 16(6), pp. 896-901.
51.
Taskinen M.R., Sane T., Helve E., et al. (1989), Bedtime
insulin for suppression of overnight Free-Fatty acid, blood glucose,
and glucose production in NIDDM, Diabetes, 38, pp. 580-588.
52.
Trischita V., Italia S., Borzi V., et al (1989), "Low-Dose
bedtime NPH insulin in treatment of secondary failure to glyburide",
Diabetes Care, 12, 582-585.
53.
Turner R.C.,
Holman R.R. (1990), "Insulin use in NIDDM: Rationale based on
pathophysiology of disease", Diabetes Care, 13, pp.
1011-1016.
54.
Weyer C., Bogardus C., Mott D.M., et al. (1999), "The natural
history of insulin secretory dysfunction and insulin resistance in
the pathogenesis of type 2 diabetes mellitus", Journal of
Clinical Investigation, 104, pp. 787-794.
55.
Wise S.D., Nielsen M.F., Cryer P.E., Rizza R.A. (1998),
Overnight normalization of glucose concentrations improves hepatic
but not extrahepatic insulin action in subjects with type 2 diabetes
mellitus, Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism,
83, pp. 2461-2469.
56.
Wolffenbuttel B.H., Sels J.P., Rondas-Colbers G.J., el al.
(1996), “Comparision of different insulin regimens in elderly
patients with NIDDM”, Diabetes Care, 19(12), pp. 1326-1332.
57.
Wright A., Burden A.C. F., Paisey R.B., Cull C.A., Holman R.
R. (2002), “Sulfonylurea Inadequacy. Efficacy of addition of insulin
over 6 years in patients with type 2 diabetes in the U.K.
Prospective Diabetes Study (UKPDS 57)”, Diabetes Care, 25(2),
pp. 330-336.
58.
Yki-Jarvinen H. 2001, "Combination Therapies With Insulin in
Type 2 Diabetes", Diabetes Care, Vol. 24, No. 4, pp. 758-767.
59.
Yki-Jarvinen H., Kauppila M., Kujansuu E., et al. (1992),
"Comparison of insulin regimens in patients with
non-insulin-dependent diabetes mellitus", New England Journal of
Medicine, 327, pp. 1426-1431.
60.
Yki-Jarvinen H., Ryysy L., Nikkila K., Tulokas T., Vanamo R.,
Heikkila M. (1999), “Comparision of Bedtime Insulin Regimens in
Patients with Type 2 Diabetes Mellitus: A Randomized, Controlled
Trial.”, Annals of Internal Medicine, 130 (5), pp. 389-396.
61.
Zimmet P.Z., Carty D.M.C. (1997), "The global Epidemiology of
Non - Insuilin - Dependent diabetes mellitus and the metabolic
syndrom", J. Diab. Comp., 11, pp. 60-68.
|